|
| Trang chủ
>
Viet
>
Khoa Học Tự Nhiên - Nhân Văn
>
Sinh học |  | | | VƯỜN THÚ NGƯỜI
| | | Tác giả: | Desmond Morris | |
Dịch giả: | Vương Ngân Hà | | NXB liên kết: | Dân Trí | |
Số trang: | 407 | | Kích thước: | 13 x 20,5 cm | | Giá bìa: | 82.000
VND | | Ngày phát hành: | 2011 |  |
| Đánh giá của bạn đọc
    
Số người đánh giá:
3 |
|
|
|  | SỰ TƯƠNG ĐỒNG ĐÁNG NGẠC NHIÊN GIỮA NHỮNG CON NGƯỜI
“VĂN MINH” VÀ CÁC CON VẬT BỊ GIAM CẦM
Cuộc sống đô thị
thay đổi cách thức chúng ta hành động như thế nào? Điều gì giải thích cho sự
phổ biến ngày càng gia tăng của bạo lực và lo âu trong thế giới của chúng ta?
Trong Vườn thú người, nhà động vật
học nổi tiếng Desmond Morris đi tìm nguyên nhân cho những bất ổn xã hội mà
chúng ta phải đối mặt. Ông phát hiện ra rằng môi trường “phát triển tinh tế”
của chúng ta thậm chí còn không giống một khu rừng nhiệt đới bằng bê tông như
người ta vẫn ví mà giống một vườn thú người nhiều hơn. Tiếp theo sau Vượn trần
trụi, cuốn sách với các quan điểm gây tranh cãi cao độ này mang lại một cái
nhìn thấu suốt bất ngờ về cuộc sống ngày càng phức tạp của con người.
*** Đôi nét về tác giả Desmond Morris 
Desmond Morris
sinh năm 1928 tại Wiltshire. Sau khi tốt nghiệp Đại học Birmingham
chuyên ngành động vật học, ông đạt được học vị tiến sĩ tại Đại học Oxford. Năm 1959, ông trở
thành người phụ trách bộ phận động vật có vú tại Vườn thú London và giữ chức vụ này trong tám năm. Ông
là tác giả của khoảng năm mươi bài báo khoa học và bảy cuốn sách trước khi hoàn
thành cuốn Vượn trần trụi năm 1967,
bán được hơn 10 triệu bản khắp thế giới và được dịch sang rất nhiều thứ tiếng.
Ông cũng thực hiện nhiều chương trình truyền hình và phim về tập tính của người
và động vật. Cách tiếp cận thân thiện, dễ hiểu khiến ông trở thành nổi tiếng
với cả người lớn và trẻ em. Trong số loạt tác phẩm quen thuộc của ông có Theo dõi người, Theo dõi cơ thể, Theo dõi
động vật và Theo dõi trẻ con. Ông
là một trong số những người dẫn chương trình về lịch sử tự nhiên được biết đến
nhiều nhất trên thế giới. Ngoài ra, Desmond Morris còn là một họa sĩ tài ba với
các tác phẩm Sinh học của nghệ thuật,
Nghệ thuật Síp cổ đại và Người theo chủ nghĩa siêu thực bí mật.
Nghiên cứu mới của ông về ý nghĩa của các cử chỉ có nhan đề Tiếng nói của cơ thể: Chỉ dẫn toàn thế
giới về các cử chỉ." *** Lời khen tặng dành cho Vườn thú người “Thuyết phục và hấp dẫn ... Morris quan tâm tới sự căng thẳng giữa cấu trúc sinh học của chúng ta và văn hóa của chúng ta, được thể hiện trong các trò chơi quyền lực, tình dục và chiến tranh.” - New York Times
“Từng làm các đồng
loại của mình tức điên lên bằng cuốn sách bán chạy Vượn trần trụi, bây giờ Desmond Morris lại cho chúng ta thưởng
ngoạn Homo sapiens khi nó đã thay đổi
môi trường. Ông đã làm tổn thương một số người với các quan điểm gây xúc phạm, nhưng
ông cũng đã viết ra hàng triệu điều kỳ lạ về bản thân họ. Cuốn sách được viết
cực kỳ sâu sắc, tuyệt nhiên không một khoảnh khắc buồn tẻ.”
- Observer
“Morris giúp chúng ta có cái nhìn mới về bản thân mình, không phải trên nền tảng văn hóa đã được chấp nhận của chúng ta, mà trên nền tảng khung cảnh bao quát hơn của di sản sinh học của chúng ta.” - The Chicago Tribune *** Trích Vườn thú người [...] Điều gì đã xảy ra với sự cân bằng tinh tế này khi các bầy đàn nhỏ bé bùng nổ và trở thành các siêu bầy đàn khổng lồ? Với sự tuyệt diệt của mô thức bầy đàn mà trong đó cá nhân đối diện với từng cá nhân, con lắc cạnh tranh/hợp tác bắt đầu đu đưa một cách nguy hiểm, và kể từ đó nó đã dao động bất lợi cho con người. Do số thành viên lệ thuộc trong các siêu bầy đàn đã trở thành các đám đông phi cá nhân, nên những dao động dữ dội nhất của con lắc đều hướng về phía áp bức, cạnh tranh. Các nhóm đô thị phát triển quá mức đã nhanh chóng và nhiều lần trở thành con mồi cho các hình thái cường điệu của sự bạo ngược, chuyên chế và độc tài. Các siêu bầy đàn sản sinh ra các siêu lãnh đạo, những kẻ thi hành quyền lực tới mức nếu đem so sánh thì các bạo chúa khỉ trước đây còn thuộc loại khá nhân từ. Chúng cũng sản sinh ra những cá nhân siêu lệ thuộc dưới hình thức nô lệ, những kẻ phải chịu đựng sự luồn cúi cùng cực hơn bất kỳ những gì mà ngay cả những con khỉ thấp kém nhất có thể biết tới. Cần phải có nhiều hơn một kẻ chuyên quyền để thống trị một siêu bầy đàn theo phương cách áp chế. Ngay cả với các công nghệ chết chóc mới – vũ khí, nhà tù, đòn tra tấn – để giúp hắn duy trì các điều kiện của chế độ nô dịch khắp nơi bằng vũ lực, hắn cũng cần phải có một lượng lớn tùy tùng nếu muốn thành công trong việc duy trì con lắc sinh học lệch sang hẳn một bên. Điều này là có thể, bởi những kẻ tùy tùng, cũng như các thủ lĩnh, đã bị tiêm nhiễm tính phi cá nhân của trạng thái siêu bầy đàn. Họ xoa dịu phần nào cái lương tâm hợp tác bằng cách lập ra các phân nhóm, hoặc các giả bầy đàn, ngay trong khối siêu bầy đàn kia. Mỗi cá nhân thiết lập các quan hệ cá nhân kiểu sinh học xưa kia với một nhóm nhỏ, quy mô cỡ bầy đàn, bao gồm các đồng loại dựa theo mối quan hệ xã hội hay nghề nghiệp. Trong phạm vi nhóm đó, anh ta có thể thỏa mãn các thôi thúc cơ bản vốn hướng về phía tương trợ và chia sẻ. Các phân nhóm khác – chẳng hạn, giai cấp nô lệ – khi đó có thể được nhìn nhận một cách thuận tiện hơn như là những kẻ nằm ngoài tầm che chở của anh ta. “Tiêu chuẩn kép” xã hội đã ra đời. Sức mạnh ngấm ngầm của sự phân nhóm kiểu mới này nằm ở thực tế là chúng có khả năng khiến các quan hệ cá nhân được xúc tiến theo cách thức phi cá nhân. Mặc dù một kẻ lệ thuộc – nô lệ, đầy tớ hay nông nô – có thể được ông chủ biết tới với tư cách cá nhân, nhưng việc anh ta được xếp đặt rõ ràng trong một nhóm xã hội thấp kém khác cũng có nghĩa anh ta có thể bị đối xử tồi tệ như một kẻ thuộc đám đông phi cá nhân. Nói rằng quyền lực làm mọi thứ băng hoại và suy vong chỉ là một phần sự thật. Chế độ nô dịch cùng cực cũng có thể suy vong tương đương như thế. Khi con lắc “sinh học-xã hội” chao ra xa khỏi phương thức hợp tác tích cực và tiến về phía bạo ngược, toàn thể xã hội cũng trở nên suy vong. Một xã hội có thể tạo ra những tiến bộ vật chất to lớn, có thể dịch chuyển 4.883.000 tấn đá để xây dựng kim tự tháp; nhưng với kết cấu xã hội đã biến dạng thì xã hội đó chẳng còn tồn tại được lâu nữa. Ta có thể chi phối gần như tất thảy, rất lâu và rất nhiều thứ, nhưng ngay cả trong bầu không khí ngột ngạt của một siêu bầy đàn, thì vẫn có giới hạn. Nếu, khi đạt tới giới hạn đó, con lắc “sinh học-xã hội” nhẹ nhàng chao ngược trở về điểm cân bằng chính giữa thì xã hội này có thể tự coi là nó gặp may. Nếu con lắc chao đi chao lại dữ dội, trường hợp này có nhiều khả năng xảy ra hơn, thì máu sẽ đổ nhiều đến mức các tổ tiên săn bắt nguyên thủy của chúng ta chưa bao giờ có thể tưởng tượng ra. Điều kỳ diệu của sinh tồn văn minh là thôi thúc hợp tác tương trợ trong con người tự khôi phục một cách mãnh liệt và điều đó cứ lặp đi lặp lại. Dù bị nhiều thứ vận hành ngăn trở, nhưng nó vẫn không ngừng quay trở lại. Chúng ta cứ thích nhìn nhận đó là thành quả của việc quyền năng của lòng vị tha trí tuệ chiến thắng các nhược điểm của thú tính, cứ như thể luân lý và đạo đức là những phát minh thời hiện đại. Nếu điều đó thực sự đúng, thì thật đáng ngờ rằng ngày nay chúng ta còn ngồi được ở đây để tuyên bố như thế. Nếu không mang theo trong mình một thôi thúc sinh học cơ bản là hợp tác tương trợ đồng loại, hẳn chúng ta không bao giờ có thể tồn tại được như một loài. Nếu tổ tiên săn bắt của chúng ta thực sự từng là những sinh vật hung bạo và tàn nhẫn, tham lam, chất chứa toàn “tội tổ tông”(1), thì câu chuyện thành công của loài người hẳn đã tàn lụi từ lâu. Lý do duy nhất giải thích tại sao trong chúng ta luôn thấm nhuần học thuyết về tội tổ tông, dù dưới dạng này hay dạng khác, là ở chỗ hoàn cảnh phi tự nhiên của siêu bầy đàn vẫn tiếp tục vận hành chống lại lòng vị tha sinh học của chúng ta, và lòng vị tha sinh học ấy cần mọi sự trợ giúp có thể. Tôi biết rõ rằng một số chuyên gia sẽ kịch liệt phản đối những gì tôi vừa nêu ra. Họ nhìn nhận con người như những sinh vật vốn có khuynh hướng yếu đuối, tham lam và đồi bại, cần phải có luật lệ nghiêm khắc với sự kiểm soát áp đặt mới làm cho con người trở nên mạnh mẽ, tử tế và tốt bụng. Nhưng khi nhạo báng khái niệm “kẻ mọi rợ cao thượng”(1) thì họ đã đánh giá vấn đề một cách nhầm lẫn. Họ chỉ ra rằng không có gì cao thượng ở sự ngu dốt và mê tín, và ở phương diện đó thì họ đúng. Nhưng nó chỉ là một phần câu chuyện. Phần khác kia liên quan tới cách cư xử của người thợ săn tiền sử đối với những đồng loại của anh ta. Tình thế tại đây ắt phải khác. Lòng trắc ẩn, sự tử tế, tương trợ lẫn nhau, một thôi thúc nền tảng dẫn đến hành động hợp tác trong phạm vi bầy đàn hẳn phải là mô thức giúp các nhóm người ban sơ sinh tồn trong môi trường bấp bênh của họ. Chỉ khi các bầy đàn mở rộng thành các siêu bầy đàn phi cá nhân thì mô thức cư xử cổ đại mới chịu áp lực và bắt đầu rạn vỡ. Chỉ khi đó các luật lệ và quy tắc kỷ luật nhân tạo mới được áp đặt để hiệu chỉnh sao cho cân bằng. Nếu luật lệ được áp đặt ở mức độ phù hợp với những áp lực mới, mọi thứ hẳn sẽ tốt đẹp; nhưng trong các nền văn minh sơ khai, con người hoàn toàn bỡ ngỡ với việc đạt được sự cân bằng tinh tế này. Họ đã thất bại nhiều lần, với các hậu quả chết chóc. Hiện nay chúng ta lão luyện hơn trong việc này, nhưng cơ chế ấy chưa bao giờ là hoàn hảo, là bởi khi các siêu bầy đàn tiếp tục mở rộng, vấn đề sẽ vẫn còn lặp lại. Ta có thể diễn đạt điều này theo cách khác. Vẫn thường có câu rằng “luật pháp chỉ cấm người ta làm theo những gì mà bản năng của họ xui khiến”. Từ phát biểu này có thể suy ra là nếu có luật pháp cấm trộm cắp, giết người và hãm hiếp thì con vật người, về bản chất phải là những kẻ dễ phạm tội trộm cắp, sát nhân và hãm hiếp. Điều này có thực là miêu tả công bằng về loài người ở vị thế một loài động vật xã hội? Nó không phù hợp với chân dung động vật học của một loài sống theo bầy đàn mới phát triển. Tuy nhiên, thật đáng buồn là nó lại phù hợp với chân dung siêu bầy đàn. Trộm cắp, có lẽ là loại tội phạm phổ biến nhất, là một ví dụ tốt. Một thành viên siêu bầy đàn đang bị áp lực, phải hứng chịu các bức xúc và căng thẳng từ hoàn cảnh xã hội phi tự nhiên xung quanh. Đa phần những cá nhân khác cùng thuộc siêu bầy đàn đó là những kẻ xa lạ đối với anh ta; anh ta không có ràng buộc mang tính cá nhân hay bầy đàn nào với họ. Một tên trộm điển hình không trộm cắp của những người thân quen xung quanh. Hắn không phá vỡ luật lệ bầy đàn sinh học cổ xưa. Trong tâm trí, hắn chỉ đơn thuần đặt nạn nhân ra ngoài bầy đàn của hắn. Để ngăn chặn tệ nạn này, một luật lệ siêu bầy đàn phải được áp đặt. Điểm cần chú ý ở đây là đôi khi chúng ta nói về “danh dự của các tên trộm” và “luật lệ của thế giới ngầm”. Điều này nhấn mạnh một thực tế rằng chúng ta coi các tội phạm như những kẻ thuộc về một giả bầy đàn riêng rẽ và khác biệt trong phạm vi siêu bầy đàn. Nhân đây, điều thú vị cần lưu ý là chúng ta xử lý tội phạm như thế nào: chúng ta giam y vào một cộng đồng bị giam hãm, toàn là tội phạm. Xét về ngắn hạn thì đó là một giải pháp khá hợp lý, nhưng hậu quả lâu dài là ở chỗ việc đó củng cố thuộc tính giả bầy đàn của y thay vì làm suy yếu nó và hơn nữa còn giúp y mở rộng các mối quan hệ xã hội trong giả bầy đàn của mình. Xem xét lại quan điểm cho rằng “luật pháp chỉ cấm người ta làm theo những gì mà bản năng của họ xui khiến”, ta có thể diễn đạt lại với ý là “luật pháp chỉ cấm người ta làm theo những gì mà các hoàn cảnh phi tự nhiên của nền văn minh xui khiến”. Theo cách này, chúng ta có thể thấy luật pháp như một phương thức cân bằng, có xu hướng chống lại những lệch lạc trong sự tồn tại của siêu bầy đàn và giúp duy trì, trong hoàn cảnh phi tự nhiên, những hình thức cư xử xã hội vốn là tự nhiên đối với loài người. Tuy nhiên, đó thực ra là đơn giản hóa thái quá. Nó ngụ ý cần tới sự hoàn hảo của các nhà lãnh đạo, những người đề ra luật pháp. Tất nhiên, các bạo chúa và nhà lãnh đạo chuyên quyền có thể áp đặt luật lệ hà khắc và vô lý để kiềm chế dân chúng ở một mức độ lớn hơn mức độ mà các hoàn cảnh siêu bầy đàn phổ biến cần có. Giới lãnh đạo yếu kém có thể áp đặt một hệ thống luật pháp thiếu sức mạnh gắn kết đám đông. Cả hai trường hợp đều ẩn chứa thảm họa hay suy tàn văn hóa. [...] |  | | | |
|
|
|
|