|
|
 |
Đọc cuốn tiểu thuyết này của Haruki Murakami giống như lắng nghe một đĩa nhạc được biên tập cẩn thận và kỹ lưỡng, có khúc dạo đầu, có phần kết, và mỗi phần còn lại trong cuốn sách là một liên khúc bao gồm những đoản khúc khi được tấu lên một cách ngẫu hứng, khi lại gắn kết với nhau một cách chặt chẽ khiến người nghe không tài nào dứt ra được. | Đó là cuộc đời của Fernando de Rojas, tác giả giấu mặt và nhiều uẩn khúc của tác phẩm Bi hài kịch của Calisto và Melibea hay La Celestina, được coi là tác phẩm mở đầu văn chương Phục hưng của Tây Ban Nha, vào năm 1498. | Nhưng cứu tôi khỏi địa ngục và chỉnh đốn tôi trở lại nghiêm chỉnh lại là một tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết ấy là Sa đọa của Camus, và mọi thứ liên quan đến nó tôi còn nhớ như thể bị đông cứng lại trong một ánh sáng ma quái, ánh sáng tĩnh của buổi tối, mặc dù tôi đã đọc nó, ngốn ngấu nó trong ánh sáng của những buổi sáng đặc biệt của Mexico City. |
Tác phẩm văn xuôi “đậm chất Tàu” hơn cả trong những gì không thuộc về dã sử có lẽ là những câu chuyện về các dòng tộc nhiều thế hệ sống cùng dưới một mái nhà, hỉ nộ ái ối quây chặt trong mấy dãy nhà ngang dọc. Trương Ái Linh, nhà văn gần như “được tìm thấy lại” ở thời gian gần đây, mặc dù có những nét mới trong tác phẩm, vẫn không đi ra ngoài sơ đồ chung này. | Mở đoạn đầu và đoạn cuối cuốn tiểu thuyết những ngã tư và những cột đèn (Trần Dần, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 2011), mà ở giữa là vô số đoạn văn như những “ô ruộng đầy chữ”, ấn tượng thị giác mà Trần Dần muốn tạo ra, ta thấy một sự dịch chuyển không gian vô cùng nhỏ bé: ở đầu chương I thì: “Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng” (tr. 13), còn ở cuối chương XVI: “Sáng nay, tôi ra phố lúc 6 giờ. Để ở lại hồi lâu trên hè, mà nhìn về cửa sổ. Bên này cửa số tôi xanh, có sáu cây bàng lá xanh, lá bàng che cửa sổ. Có nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, mui chạm tán bàng. Bên kia cửa sổ tôi tím, có lọ mực tím, và bản thảo lem nhem mực tím. Có nhật kí, và bản sao nhật kí” (tr. 336). Nhân vật như thể vừa đi qua rất nhiều biến động, cả những lần súng nổ và rất nhiều tội ác, âm mưu, nhưng lại vừa cũng chỉ đi từ bên này sang bên kia một bức tường. | Các bài khác:- Trần Dần giữa những cơn mưa (Exclusive)
Trần Dần giữa những cơn mưa (Exclusive)Trần Dần đến từng dấu phẩy, tôi nghĩ đó là nhận xét thích đáng, ít nhất là với cuốn tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, chứ không phải ngoa ngôn. Ông thuộc về những người mà số phận cá nhân gắn liền với số phận những bản thảo, thêu dệt thành tấm thảm khắc chìm một thứ mật mã dưới lớp hoa văn, mà giải được nó, người ta có thể sở hữu kho báu, phép lạ, cũng có thể chịu lời nguyền. Điều gì thuộc về số phận, cũng sẽ quyết định bởi số phận. Chừng như tôi là người đọc mang sẵn một thứ chủ nghĩa duy tâm chủ quan và bi quan. Tôi không cho rằng việc những tác phẩm của Trần Dần được phơi bày dần ra ánh sáng, hơn một thập niên sau khi ông mất, và phải gấp ba, bốn lần số thời gian đó tính từ những thời điểm bản thảo được hoàn thành, có thể soi sáng số phận ông, cũng chưa chắc giúp ông có nhiều người đọc hơn. Bí ẩn dưới tấm thảm đó vẫn mới chỉ lộ ra đôi ba kí hiệu, vừa mời mọc, vừa cấm đoán. - Tại sao phải phê bình văn chương?
Tại sao phải phê bình văn chương?Cuốn sách này của Đỗ Lai Thúy trước hết đưa ra “một cái nhìn lịch sử” của ông về phê bình văn học-lý thuyết văn chương ở cấp độ khái niệm, dạng thức và tư tưởng - một cách trình bày đã ngay lập tức nâng phê bình lên tầm mức triết học, như là một mỹ học để giải thích thế giới. Tiếp đó, các trình thuật trong sách chia đại thể làm hai phần có thể gọi là phần lịch sử của phê bình văn học ở Việt Nam và phần chân dung các nhà phê bình tiêu biểu của cái lịch sử ấy - cũng được trình bày như đồng thời mang chứa một cách lịch sử toàn bộ cái lộ trình tự nhận thức trong văn chương nước nhà, thật sự đã lần đầu tiên đưa đến một cái nhìn nhất lãm về nghiên cứu-phê bình văn học ở Việt Nam, cho dù là một cái “nhìn nghiêng từ phương pháp” như tác giả tự định nghĩa. - Naoko không có bí mật
Naoko không có bí mậtVới những ai đã đọc “Phía sau nghi can X”, cuốn tiểu thuyết của Higashino Keigo mới được xuất bản tại Việt Nam (“Bí mật của Naoko”, Uyên Thiểm - Trương Thùy Lan dịch, Nhã Nam & NXB Thời đại) giữ người đọc trong một sự chờ đợi đầy lo âu từ đầu tới cuối rằng nhất định sẽ có một biến nào đó vô cùng bi thảm xảy đến ở trang tiếp theo. Nhưng sự bi thảm mà câu chuyện về Naoko mang lại còn lớn hơn những chi tiết bi thảm cụ thể, vì toàn bộ “Bí mật của Naoko” là hiện thân của sự bi thảm.
- Tiểu thuyết của một nhà thơ (Exclusive)
Tiểu thuyết của một nhà thơ (Exclusive)Những câu văn ngay từ đầu cuốn sách này đánh thức trí nhớ tôi đến một câu thơ của Maiakovski:
“Bàn tay vô sản
ghì chặt lấy yết hầu thế giới”
Không chỉ vì và không chỉ là nhịp điệu. Mà bởi cái bên trong cốt lõi của nó: sức thấu thị từ một cái nhìn thơ ca, sức khai mở từ một kinh nghiệm nghệ thuật xuyên qua tâm trí, gây rung động từ các cấu tạo làm bộc lộ chân tướng và ý nghĩa của các sự kiện và con người trong một lịch sử tương ứng, chứ không phải bằng việc tìm kiếm những yếu tố kích thích tình cảm cảm động. - Don DeLillo: “Mở những con mắt, đó là vai trò của nhà văn” (II)
Don DeLillo: “Mở những con mắt, đó là vai trò của nhà văn” (II)"...Tôi nghĩ viết vừa cho phép nắm bắt thế giới vừa cho phép nắm bắt những gì người ta nghĩ ở sâu thẳm nhất. Cần phải ngồi xuống viết ra những từ trên giấy để thấy được điều đó thật rõ và gắn kết ý thức với những gì làm chúng ta xúc động. Các từ, ngay khi được viết ra, đã trở thành những tác nhân cho suy tư. Và nếu một số nhà hùng biện vĩ đại biết cách sắp xếp hoặc làm người ta có ảo tưởng là họ sắp xếp suy nghĩ của mình trong khi đọc diễn văn, thì tôi lại thuộc về những người được việc viết trợ sức cho suy nghĩ. Khi tôi ngồi vào bàn làm việc, sự tập trung của tôi lớn đến mức không gì có thể làm tôi sao lãng được. Mặt khác, tôi là người đầu tiên ngạc nhiên vì điều này. Một từ hoặc một câu mời gọi những từ và những câu khác, và xuất phát từ văn bản mà cuốn tiểu thuyết được dựng ra, từng tí từng tí một. Với tôi không có gì được dự tính từ trước. Tôi không chọn chủ đề cho các tiểu thuyết của tôi, chính chúng đã chọn tôi. Chẳng hạn, ở nguồn gốc của Mao II, có một bức ảnh nhỏ xíu tôi tình cờ bắt gặp khi đọc báo, chụp mấy chục cặp vợ chồng mới cưới từ nhà thờ bước ra. Tôi không hề có ý tưởng mình sẽ làm gì với nó khi ngồi vào bàn làm việc. Ở những trường hợp khác, có một hình ảnh đột nhiên lướt qua tâm trí tôi và tôi để mặc cho mình bị dẫn đi..."
| |
|
|
|
|
|
Cuốn tiểu thuyết của Marie NDiaye, Ba phụ nữ can đảm, vốn có tên gốc là Trois femmes puissantes, giải Goncourt năm 2009. Trois femmes puissantes có thể hiểu là “ba phụ nữ hùng mạnh”, “ba phụ nữ quyền lực”, và ngay từ đầu cái tên sách này đã tạo ra vấn đề, một sự hoang mang trong lòng người đọc: cả ba phụ nữ nhân vật chính của các phần, Norah, Fanta và Khady Demba, đều rơi vào những hoàn cảnh sống vô cùng khắc nghiệt, gian khó, rất không dễ hình dung “quyền lực” của họ. |
|
|
|
|