
“… Người phụ nữ ấy
biến mất, từng chút từng chút một. Người phụ nữ ấy đã phải quên đi niềm vui
được sinh ra trên cuộc đời này, quên đi tuổi thơ và những ước mơ, lấy chồng
trước cả khi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên, sinh năm đứa con và nuôi nấng chúng.
Đó là người phụ nữ không bao giờ ngạc nhiên hay nao núng trước bất cứ điều gì…”
(tr. 314).
Những lời văn
chương đa cảm đó phải chăng không hề che giấu chất thống thiết hùng biện; hùng
biện và đa cảm như là những phẩm chất một cách thức đặc thù biểu hiện sự cực
đoan hướng tới, khẳng định, tự đồng hóa với cái cao cả, cái lớn lao - những con
người tôn giáo hẳn biết rõ điều này - cái lớn lao và cao cả “bất khả ngộ” bởi
đã được xác nhận rộng rãi trong lương thức thông thường.
Ở đây, trong câu
chuyện của cuốn sách này, cái lớn, cái cao cả ấy là tình “yêu thương” phổ biến
(trong câu đề từ đầu sách, dẫn nhạc sĩ lãng mạn Hungary vĩ đại Franz Liszt: “Ôi yêu
thương, chừng nào còn có thể yêu thương”), và là tình mẫu tử.
Cốt truyện khá
giản đơn: một bà mẹ mất tích sau khi bị tụt lại trên một sân ga đông đúc vì lạc
dấu ông chồng lúc bọn họ lên tàu điện ngầm ở Seoul trong một chuyến thăm con;
và vụ mất tích bí hiểm đã mở dần ra từng chương ký ức về người mẹ đó thông qua
những suy tư hồi tưởng của người con trai cả, của hai cô con gái và của người
cha trong cuộc tìm kiếm đến tuyệt vọng người mẹ của cả gia đình họ.
Một trật tự kể hồi
cố liên tục mở ra suốt bốn chương truyện, lần lượt từ cái nhìn của cô con gái
lớn, người con trai trưởng, người cha, rồi từ cái nhìn của chính bản thân người
mẹ mất tích đó dưới dáng vẻ phần nào gây bất ngờ như “MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ KHÁC” (Chương
4, tr. 225), chỉ dành phần cuối chương kết, chương thứ năm, để rời dòng hồi
tưởng chủ lưu và đưa toàn bộ những ký ức về cuộc đời người mẹ đó (hay cuộc đời
một người mẹ như một cuộc kết tập những ký ức mà cuộc đời ấy đã sản sinh ra)
vào cái viễn tượng lớn lao của trái tim vĩnh hằng mở ra dưới chân bức tượng Đức
Mẹ Sầu Bi trong Đền thờ Thánh Phêrô, giữa Roma.
Chủ đề giản dị thông
thường về tình thương yêu, đức khoan dung và hy sinh của một người mẹ ở đây
được xử lý một cách cũng giản dị nhưng khác thường: nói về cái tình ấy tấm lòng
ấy bằng những gì nó để lại khi nó đã mất đi, bằng những hiện thân của nó trong
sự vắng mặt của nó; thay vì một truyện kể của hồi ức, một tiểu sử tái hiện, là
tiểu thuyết của một câu hỏi do các ký ức mang lại mà không có lời giải đáp, là
những phiến đoạn của nhiều ký ức được kỳ vọng sẽ đưa một câu chuyện cá biệt về
cái phổ quát trở lại chân trời phổ quát theo một cách cá biệt.
Đó dường như không
chỉ là mong muốn mà còn là vấn đề nguyên tắc: các nhân vật trong gia đình và
nhân vật người mẹ này là những Kitô hữu - điều mà tác giả tiểu thuyết kể đến
nhưng không nhấn mạnh, như cách để khiến yếu tố “đạo” ấy bỗng có dáng vẻ một
môi trường tự nhiên vốn dĩ của tinh thần.
Yếu tố đó góp phần
rất quan trọng giải thích những biểu hiện nhẫn nại khác thường gắn với hình ảnh
nhân vật người mẹ trong ký ức các nhân vật kia - khác thường bởi đó không thuần
túy là chịu đựng: dẫu không hoàn toàn chỉ có mừng vui (người mẹ thì thầm với
con gái lớn rằng nhiều lần bà đã phải đập nắp chum dưới bếp để xả cơn bức bối
vì hầu như quanh năm phải làm những việc mình không thích - tr. 79), dẫu vậy,
các trình thuật hồi tưởng, kể cả của chính nhân vật người mẹ, đều cho thấy sự
nhẫn nại cần cù, sức gánh vác dường như vô hạn toàn bộ gánh nặng gia đình cùng
những nghĩa cử tự nguyện với láng giềng, với cộng đồng xã hội khác… Ở nhân vật này
luôn toát lên thứ ánh sáng khó nhầm lẫn của hành động dâng hiến, thứ niềm vui
lạ lùng chỉ có nơi những người sống một đời tận hiến, thậm chí say mê như kẻ
tuẫn đạo. Bởi, dĩ nhiên, dù các ký ức của người chồng, con trai, con gái đều
chỉ thấy tấm lòng hy sinh kia hướng đến mình hay bắt nguồn từ những tình trạng
do mình gây ra, họ vẫn băn khoăn trở đi trở lại một câu hỏi: vì sao người mẹ,
người vợ của mình có thể chịu đựng ngần ấy thứ ròng rã suốt ngần ấy năm tháng ở
đời?
Câu hỏi treo ra
lửng lơ đó đi liền với những gợi ý về lời giải đáp ngay trong từng mỗi phiến
đoạn ký ức của mỗi nhân vật: người cha thì vốn đã suốt đời muốn đi xa và từng
mấy lần vùng thoát khỏi cái chật hẹp tù túng bất mãn của thôn quê và đời nông
dân, của cuộc hôn nhân cũ kỹ này mà ông ta vẫn coi chỉ do hoàn cảnh và lòng cảm
thương thúc bách…; người con trai cả cũng như hai cô em gái cũng chịu cùng một
thứ lực ly hương như người cha của họ, nhưng hợp thời và có vẻ hợp lý hơn, họ được
nâng đỡ và thúc đẩy từ chính những nỗ lực tận tụy của người mẹ kiên định đưa con
cái theo con đường học vấn và nghề nghiệp hiện đại để lên sống ở thủ đô Seoul;
và câu trả lời trong ký ức người mẹ là bởi bà còn có, giữa những sự hài lòng về
bổn phận, một “bí mật cuộc đời” (tr. 268)
trong một tình yêu kỳ lạ thuần túy tinh thần với một người đàn ông khác…
Đó là những gợi ý
về một câu trả lời gián tiếp. Thực tình của một dĩ vãng dường như bền vững
không thể thay đổi, như trong ký ức cô con gái lớn: “Cô chưa bao giờ nghĩ đến
hình ảnh mẹ không gắn liền với gian bếp. Mẹ là bếp và bếp cũng chính là mẹ”
(tr. 72). Các thành viên khác trong gia đình đều chia sẻ cùng một ký ức như thế
về người mẹ, người vợ này: bà chính là ngôi nhà, ruộng vườn, đàn gia súc, kho
lẫm, chum tương, món kim chi, là thợ sửa nhà, người nấu bếp, là bàn ăn… của cả
gia đình. Tất cả các thành viên khác đều bị cuốn về đô thị, về một nơi đô hội
khác ngay cả khi nơi đó chỉ gói gọn trong một người đàn bà trắng trẻo mềm mại
từng khiến ông chồng bỏ nhà ra đi… Bà chính là hiện thân cái cội nguồn ký ức
của mọi người trong họ.
Những ký ức đó có
một mẫu số chung: cảnh nghèo đói, sự nỗ lực, nỗi ân hận không thể cứu vớt về
tình trạng quên lãng một cách vô tâm vô ý, thầm lặng hằng ngày hằng giờ xói mòn
người mẹ người vợ đó. Kết cấu trần thuật của câu truyện nói lên điều này: bằng
cách đặt mỗi nhân vật vào dòng hồi tưởng riêng rẽ của mỗi người trong họ, câu chuyện
biểu đạt tình trạng mơ hồ, chắp nối, võ đoán hay không thể thông hiểu hay là sự
tan rã ngoài ý muốn, mà hệ quả là nhân vật người mẹ chỉ tồn tại trong những
mảnh hồi ức rời rạc. Nhân vật đó vắng mặt ngay cả khi còn đang sống ở đấy - ta
không “thấy” nhân vật này, mà chỉ “nghe” về bà ta như nghe một huyền thoại - vì
các mối liên hệ xung quanh bà, những liên hệ quan thiết gần gũi nhất, và thậm
chí mối liên hệ giữa chính bà với bản thân mình cứ không ngừng đứt gãy tan mất
bởi các khoảng cách đô thị nông thôn, khoảng cách của thông hiểu sẻ chia,
khoảng cách nội tại nội tâm do di chứng một lần xuất huyết não mà không ai
trong gia đình hay biết.
Bởi vậy vụ mất
tích của nhân vật người mẹ là một câu hỏi tu từ của cuốn tiểu thuyết này mặt
khác, đó lại dường như một cuộc trở về ngoạn mục; và đau xót; đúng như mong
muốn của tính đa cảm: đa cảm như là một biểu đạt của khuynh hướng tình cảm cực
đoan - ở chỗ nó phục dựng tô điểm rực rỡ (bằng những mô tả đặc sắc phong tục,
tình yêu, vẻ đẹp địa phương độc đáo, v.v…) từng khoảnh khắc, dẫu là rời rạc,
của một quá vãng, cái con người của bà mẹ trong quá khứ, cái bà mẹ thực ra -
như truyện kể - đã không ngừng mất đi qua mỗi giây phút trước lúc bước hẳn vào
cuộc mất tích bí ẩn này.
Nguyễn Chí Hoan
* Đọc Hãy chăm sóc mẹ, tiểu thuyết của Shin
Kyung-Sook, Lê Hiệp Lâm và Lê Nguyễn Lê dịch, Nhã Nam & Nxb Hội Nhà văn,
2011.
** Bài đã đăng báo
Thời nay với một số thay đổi, đây là
bản gốc của tác giả.