Có
những nhà văn mang sức mạnh bản năng của cái thôi thúc lột trần cuộc đời: vặn
xoắn nó, bóc phanh ra, phơi bày và sắp đặt - nhịp điệu gấp gáp của sự xáo trộn
trong những truyện ngắn của tập sách này dường như là vậy.
Mở
đầu bằng câu chuyện nhiều ám ảnh tự thuật về sức nặng của quá khứ đối trọng một
cách hầu như quá tải với hiện tại của một người trẻ mang cái quá khứ ấy thông
qua người cha tha hương từng là nạn nhân trong vụ thảm sát Sơn Mỹ, tập truyện
được báo trước sự đa dạng của nó qua lời nhân vật người bạn nói với nhân vật
“tôi”: “Cậu có thể chuyên trị khai
thác cái đề tài Việt Nam ấy. Nhưng thay
vào đó, cậu chọn viết về ma cà rồng đồng tính và những kẻ sát nhân Columbia, và trẻ mồ côi Hiroshima - và những họa
sĩ NewYork bị bệnh trĩ” (tr.21).
Quả
có thế thật. Nhưng cái thế giới tượng trưng này của “tôi” vẫn xoay quanh một
cái trục - từ Úc qua Bắc Mỹ và Nam
Mỹ, từ một đêm Ba Tư mới đây trở lại một con thuyền di tản chết máy trôi giạt
giữa vùng Nam Biển Đông hơn
hai mươi năm trước, cho đến một nơi ở vùng phụ cận Hiroshima vào cái ngày định
mệnh 6/8/1945, tất cả những câu chuyện này đều đem tới cuộc đối diện của người
thanh niên hay thiếu niên với người cha và quá khứ như những ẩn dụ về các giá
trị đạo đức với tư cách là nguồn ý nghĩa và là việc tạo sinh ý nghĩa của đời
sống.
Tình
trạng xáo trộn, thậm chí hỗn loạn, là đặc trưng của những tình thế đối diện rất
khác nhau đó. Như trong truyện “Gặp Elise” (gợi lên một cú nhại sầu thảm đến
khúc “Thư gửi Elise”
chăng?), nhân vật trung tâm lại là người cha, một họa sĩ thời danh của NewYork,
vật lộn đến tuyệt vọng để được gặp đứa con gái mà người vợ bị ông ta ly dị đem
sang Nga suốt mười mấy năm và nay đứa con ấy đã trở thành một nhạc công cello
nổi tiếng. Đứa con ở đây chao đảo giữa vắng mặt và hiện diện, và như vậy, với
niềm oán trách hay hối tiếc hụt hẫng ở người cha “hữu sinh vô dưỡng”, câu
chuyện đẩy một cách trọn vẹn hơn những rắc rối của quá khứ ấy vào tương lai của
đứa con.

Hay
trong truyện “Con thuyền” - mang bóng dáng khá rõ một chuyến tàu “Exodus” bởi
tính khái quát được thiết lập một cách tinh tế qua các mô tả gây hiệu ứng xóa nhòa
bối cảnh - có đến hai cặp cha-con ở vào hai tình huống trái ngược: một thằng bé
nghiêm nghị trước tuổi, thường hát mấy câu Chinh
phụ ngâm khúc, đi đến phía người cha nó chưa bao giờ biết mặt và người cha
kia còn chưa biết đến nó, mà rồi có thể là vĩnh viễn không; và một đứa con gái
phải lìa xa người cha thương yêu nó, lìa xa đến ba lần thông qua cảnh phân ly
của cha mẹ thời chiến tranh và hậu chiến, cái người cha giờ đây không còn trông
thấy gì được nữa, hầu như biểu trưng cho một quá khứ đã dừng lại, vẫn đứng đó,
hầu như khiến con thuyền “Xuất hành” đó đi vào một tình thế lưỡng đối sâu xa.
Tính
giả định nằm sâu bên dưới sự xáo trộn của các bối cảnh truyện đi qua những khu
hệ văn hóa hết sức khác nhau từ Đông sang Tây - tính giả định là bởi người kể
chọn những điểm nhìn từ tâm trí các nhân vật; và rất có vẻ đây là một trải
nghiệm theo dấu William Faulkner, người đã được trích dẫn ngay từ truyện mở đầu
tập một cách rất có ngụ ý.
Chất
trải nghiệm trong việc tước bỏ hình thức quen thuộc của đời sống, cái hình thức
văn học quen thuộc của nó, tức là truyện kể, ở đây thể hiện với đầy cảm hứng và
rất mạnh mẽ cuốn hút. Và để lộ ra rằng cuộc đời có lẽ không có hình thức nào
ngoài chính nó; và nếu không, thì là đạo đức - điều mà những tâm trí trong các
truyện ở đây tìm đến một cách khá là cầu kỳ, thậm chí rắc rối, nhưng hoàn toàn
sinh động và chất chứa suy nghĩ.
Nguyễn
Chí Hoan
*
Đọc Con thuyền, tập truyện ngắn của
Nam Lê, Thiên Nga và Thuần Thục dịch, Nhã Nam & Nxb Hội Nhà văn, 2011