Ryszard
Kapuściński viết ở đây (Gỗ mun, Nguyễn
Thái Linh dịch, Nhã Nam & NXB Thế giới, 2011) rằng châu Phi không có lịch
sử theo cách hiểu châu Âu về một lịch sử thành văn, khách quan và có tính khoa
học, mà từ thế hệ này sang thế hệ khác người Phi kể cho nhau nghe và “từng thế
hệ, khi nghe phiên bản được truyền cho mình, lại thay đổi và tiếp tục thay đổi
nó, làm biến dạng, sửa sang, tô màu cho nó”, để rồi cuối cùng, “lịch sử đạt đến
hình thức trong suốt, tinh khiết nhất của mình: hình thức của huyền thoại”
(tr.458). Dường như trong cuốn sách tái hiện cuộc khám phá trải gần bốn mươi
năm liên đới với Phi châu này của ông, Kapuściński đồng thời làm sống lại trong
văn chương của mình phong cách huyền thoại đặc thù đó.

Gỗ mun là
một chuỗi hai mươi chín câu chuyện kể một cách uyển chuyển tạo nên một hình
dung về lịch sử hiện đại của châu Phi, cái lịch sử mà Kapuściński nắm bắt một
cách vô song ở đây qua những lát cắt thực tại tạo thành một bức tranh ghép, và
giữa các mảnh ghép là những khoảng trống lung linh sâu xa viền quanh - như thể
cái thực tại được trần thuật ấy ta nhìn qua cái nắng dữ dội của miền Nam
Sahara, cái nắng khiến “[m]ọi thứ trở nên lỏng, mọi hình ảnh đều rung rinh và
nhạt nhòa” (tr.70) - mà đồng thời cũng là những truyện kể giản dị, chân thực và
mật thiết về một số những diện mạo khác nhau của một thực tại lạ lùng: “Khởi
đầu: Cú va chạm, Ghana 1958”, “Đường đến Kumasi”, “Cấu trúc thị tộc”, “Tôi, một
Người Da trắng”, “Trái tim rắn hổ mang”, “Bên trong tảng núi băng”, “Bác sĩ Doyle”,
“Zanzibar”, “Giải phẫu một cuộc đảo chính”, “Hẻm phố của tôi, 1967”, “Salim”,
“Lalibela, 1975”, “Amin”, “Cuộc phục kích”, “Sẽ có ngày hội”, “Thuyết trình về
Rwanda”, “Những viên pha lê đen của màn đêm”, “Những người ấy, họ đâu rồi”,
“Cái giếng”, “Một ngày ở làng Abdallah Wallo”, “Trở dậy trong bóng tối”, “Địa
ngục đang nguội”, “Dòng sông lững lờ”, “Mađam Diuf đi về nhà”, “Muối và vàng”,
“Xem kìa, Đức Chúa ngự trên mây bay”, “Cái hố ở Onitsha”, “Những cảnh tượng
Eritrea”, “Trong bóng cây, ở châu Phi”.
Đó
là cái thực tại, khá lâu sau cú “Khởi đầu…” của Kapuściński và hầu như chắc
chắn có phần đóng góp của ông với tư cách một phóng viên quốc tế, cái thực tại
đã trở nên đặc thù và phổ biến trên đại dương truyền thông của thế giới hiện
đại trong một thuật ngữ gọi là Châu Phi vùng Nam (Sa mạc) Sahara.
Trong
hai mươi chín lát cắt kể trên, mà một vài nhà bình luận thấy chúng như là các
truyện ngắn, ta được đưa đi từ bờ Tây sang bờ Đông, đặc biệt là Vùng Sừng châu
Phi, xuống miền Nam châu lục một chút đến Rwanda - không có các quốc gia vùng
Bắc Phi và Nam Phi - khiến ta nghĩ những giới hạn địa lý đó ngầm chứa một gợi ý
của tác giả; thêm nữa, không có một mô tả nào trong hàng loạt mô tả hết sức ấn
tượng của những trình thuật sắc bén này mà lại khiến người đọc chú mục đến màu
da của các nhân vật người bản địa, và ta sẽ có cảm giác Kapuściński chỉ đôi chỗ
buộc phải dùng đến cụm từ “Người Da Đen” hay “da đen” như một loại thuật ngữ đã
thuộc về quá khứ, gây khó chịu bởi tính phiến diện sáo mòn và phản cảm, không
tương xứng với con người, không nói lên gì ngoài một thái độ gây thương tổn.
Bởi
vậy các trình thuật này gieo ấn tượng như một lịch sử được viết lại, uốn nắn
lại, theo kiểu một sách trong Cựu Ước, từ trải nghiệm của một chứng nhân, tin
cậy vào các lời kể, bao gồm cả những ghi chép khái quát như “Thuyết trình về
Rwanda”, hay những câu chuyện với tầm nhìn sử thi như trong “Địa ngục đang
nguội” kể về nước Liberia kỳ quặc lập nên bởi những cựu nô lệ gốc Phi được hồi
hương sau cuộc giải phóng nô lệ ở Mỹ, hay trong “Những cảnh tượng Eritrea” kể
về cuộc kháng chiến giành độc lập của xứ sở này mà rất ít người biết đến, cuộc
chiến tranh ba mươi năm - dài nhất trong lịch sử châu lục (tr.442)…
Các
trình thuật này có đủ những hình ảnh đặc trưng : sa mạc, lạc đà, ốc đảo, rừng
mưa xích đạo khổng lồ, những cây bao báp, bình nguyên Serengeti như Vườn Địa đàng
mặt đất, từ bờ sông Nile đến châu thổ sông Niger và Hồ Chad, Bờ Biển Ngà và bọn
buôn kim cương quốc tế… tuy nhiên hoàn toàn không tỏ ra ý hướng vươn đến hết
địa lý châu lục, mà luôn luôn dán mắt vào cuộc sống của “những người bản địa”.
Đó
dường như là cái ngụ ý bao trùm của tác giả mà ông đã hé lộ ngay trong đoạn
phàm lệ đầu sách hết sức ngắn gọn, toát lên một niềm suy tư hết sức khiêm
nhường: “Đây không phải là cuốn sách về châu Phi, mà về một số người ở đó, về
những cuộc gặp gỡ với họ, những khoảng thời gian bên nhau. Châu lục này quá lớn
để có thể miêu tả nó. Đó là … một hành tinh riêng… Chúng ta gọi “châu Phi” chỉ
là để cho tiện, một cách vô cùng giản lược. Trên thực tế, ngoài cái tên địa lý,
châu Phi không tồn tại”.
Làm
sao có thể nói về một cái “không tồn tại” to lớn đến như vậy? Nhưng thật rõ đó
là một ẩn dụ của Kapuściński - điều đã khiến cả những người ca ngợi và những
người chỉ trích các tác phẩm của ông đều nói ông viết văn chương hư cấu hơn là
phóng sự.
Tuy
nhiên, Kapuściński đã từng gọi tác phẩm của mình là những “phóng sự mang tính
văn học”, và nhấn mạnh nếu không tìm những cách thức khác để quan sát, tri nhận
và mô tả thì người ta sẽ chẳng hiểu được chút gì về thế giới.
Cái
“cách thức khác” ấy ông thể hiện một phần trong những câu chuyện này: cách kể
gợi ý với người đọc rằng họ đang nghe một tiếng vọng từ những truyện kể đặc thù
của người Phi.

Nguyên tác tiếng Ba Lan
Một
thí dụ, trong tiết đoạn “Cái giếng”, Kapuściński lưu ý cách kể của nhân vật
người Somalia có tên Hamed: “Hamed nói với tôi rằng thi ca của họ thường kể về
các bi kịch và sự diệt vong của các thị tộc không kịp dến được giếng nước khi
đi qua sa mạc. Một chuyến đi bi thảm như thế thường kéo dài nhiều ngày, thậm
chí nhiều tuần. Cừu và dê chết trước tiên. … “Sau đó là trẻ con” - anh nói,
không thêm gì cả. Không kể các ông bố bà mẹ phản ứng ra sao, các đám tang như
thế nào. “Sau đó là trẻ con” - anh nhắc lại rồi im lặng. … “Rồi phụ nữ chết” -
lát sau anh tiếp tục. …” (tr.301).
Dường
như việc Hamed không kể về các “phản ứng” hay “đám tang” đã tạo một thay đổi
làm nên đặc tính của văn mạch hoặc có một ý nghĩa biểu tượng - trình thuật đó
bỗng trở nên một câu chuyện khái quát vượt khỏi thời tính thông thường, hầu như
mất đi sắc thái cụ thể đơn lẻ; hoặc chính điều đó đã khiến cho biến cố và chuỗi
sự kiện của câu chuyện trở nên rõ rệt hơn trong tính bi thảm của chúng: cuối
cùng thì điều đáng sợ nhất đối với một người Somalia sẽ tới, Kapuściński kể, khi
mà chỉ còn lạc đà và đàn ông sống sót, tới giới hạn ba tuần, nếu họ còn lại một
mình trên mặt đất - “Hamed thốt lên và trong giọng nói của anh có âm sắc hoảng
sợ, bởi đó chính là điều mà một người Somalia không thể hình dung nổi: còn lại
một mình trên thế giới” (tr.302).
Tình
tiết này là một trong những điểm bộc lộ rõ nhất điều dường như là ý hướng nền
tảng của tác giả trong các trình thuật này của ông: sau mọi thứ, ông muốn khám
phá con người - không phải trong vai một nhà thám hiểm (với đầu óc “thực dân”,
như một ai đó chỉ trích nặng nề), cũng không trong vai nhà dân tộc nhân chủng
hay khảo cổ học.
Sự
khám phá đó của Kapuściński nhằm đến điều, đã dẫn ở trên, là có một lịch sử
đích thực của những xứ sở này nằm trong lời kể của các cư dân, do đó nằm trong
tâm hồn và trong cách thức họ sống hơn là trong những gì người ta khái luận về
họ.
Ở tiết
đoạn thứ nhất, “Khởi đầu: Cú va chạm, Ghana 1958”, ông dựng lại chân dung một người
Phi hiện đại thời giữa thế kỷ XX, Kofi Baako, Bộ trưởng Giáo dục và Thông tin
của Cộng hòa Ghana mới giành độc lập. Tính đến khoảng cách thời gian bốn mươi
năm, ta hẳn nên kinh ngạc với ấn tượng còn giữ nguyên vẻ hoàn toàn tươi mới một
niềm hy vọng rất trẻ, rất lý tưởng của thời kỳ phi-thực-dân-hoá các xứ thuộc
địa toát ra từ các mô tả của Kapuściński về anh chàng Bộ trưởng này, cũng như
những hình ảnh phấn khích của đám đông quần chúng và cảnh tượng sinh hoạt náo
nhiệt đặc thù trên đường phố thủ đô Accra nơi tất cả dường như đều vừa hồi sinh
bởi cảm thức sống trong một đất nước độc lập tự do.
Câu
chuyện mở đầu cuốn sách này cũng là câu chuyện duy nhất mà ngôn từ lấp lánh nỗi
hy vọng mỗi khi chạm đến hình ảnh “người bản xứ” (tr.10).
Ở
tất cả các tiết đoạn sau, nỗi hy vọng đó dần nhường chỗ cho niềm băn khoăn bất
tận.
Ngay
trong tiết đoạn thứ hai, “Đường đến Kumasi”, câu hỏi mở ra với hình ảnh những
người Phi trong “trạng thái chờ đợi bất động”, “Thân hình mềm lả, rũ xuống, co
vào. Cổ bất động, đầu không động đậy. Con người không nhìn quanh, không quan
sát, không tò mò. … Thường là mắt mở, nhưng không có ánh nhìn, không một tia
sáng của sự sống. … Họ không ăn, không uống, không đi tiểu. Họ không phản ứng
với ánh nắng ác ôn đang thiêu đốt, với đám ruồi phàm ăn hung tợn đang bâu lên
môi, lên mi mắt họ” (tr.28-29).
Vậy
mỗi lúc phải đợi chờ “họ” lại thoát ra bên ngoài của hiện hữu chăng?

Tác giả Ryszard Kapuściński
Kapuściński
trong cuốn sách này không phải một người viết du ký; ông chọn lọc từ các ký ức
suốt mấy thập niên của ông để kể về cái thực tại lạ lùng này; bởi vậy những chi
tiết trong truyện đều là những chi tiết đã được nghiền ngẫm sàng lọc. Và sự
quan sát con người ở đây khiến liên tưởng đến quan sát của danh họa Paul
Gauguin về những “người bản xứ” ở Tahiti.
Trong
“Hẻm phố của tôi,1967” Kapuściński kể từ nơi ông trú ngụ ở Lagos, thủ đô
Nigeria, trong một căn hộ thuê: “nằm trong trung tâm thành phố, trên đảo Lagos.
Hòn đảo này trước kia là điểm tập kết của những kẻ buôn bán nô lệ và gốc gác
nhục nhã đen tối ấy đã để lại trong bầu không khí thành phố một cái gì đó bất
an, hung bạo. … Thực ra tôi có thể chọn Ikoyi - khu vực an toàn và sang trọng …
nhưng đó là một nơi quá nhân tạo, khép kín … Mà tôi thì muốn sống … trên một
đường phố châu Phi, trong một căn nhà châu Phi. Nếu không, làm sao tôi có thể
hiểu được thành phố này? Châu lục này?” (tr.160-161).
Cuộc
khám phá của Kapuściński là một hành trình từ bề mặt vào bề sâu và không có
tiên kiến, nhưng lại không phải một lối tò mò với xứ lạ, có lẽ bởi thế những
trình thuật này mang lại cho ta nỗi ngẫm nghĩ ngạc nhiên sâu sắc về miền đất
cái nôi của nhân loại: một hành trình quanh co một cách bí ẩn từ bờ Vịnh Guinea
sang bờ Hồng Hải, cho đến lúc dừng lại nghỉ dưới bóng một cây xoài trên đất
Ethiopia.
Thực
ra có rất ít những mốc lịch đại cụ thể được ghi vào các lộ trình ở đây, mặc dù
nhìn chung đó là thời kỳ từ cuối thập niên 1950 đến giữa thập niên 1990 với khá
nhiều sự kiện đảo chính quân sự và nội chiến được ghi nhận; dẫu sao thì vẫn
không phải một chuỗi phóng sự báo chí hoặc một công trình sử học điền dã.
Vậy
cái gì đặc trưng cho các trình thuật này? - Có một gợi ý : “Đến gần Gondar (… thành
đô này của vua chúa Ethiopia …) tôi gặp một người đi bộ từ Bắc xuống Nam. Đó
chính là điều quan trọng nhất có thể nói về anh ta: đi từ Bắc xuống Nam. À, còn
có thể nói thêm rằng anh ta đi như thế để tìm anh trai mình”. Và cái người đi
bộ đó không có gì ngoài cây gậy lữ hành, bộ quần áo rách mất dạng, một mẩu vải
làm khăn và “một cái tách bằng gỗ có nắp đậy đeo qua vai”; không có tiền; ai
cho gì ăn nấy, không thì nhịn mà đi; cũng không biết anh trai ở đâu, chỉ biết
là anh ấy đã đi về phía Nam; và “[c]ả đời anh luôn luôn đói, cái đói chẳng có
gì là bất bình thường.” Vậy “[t]ại sao anh lại muốn đi tìm anh trai? Tại sao ư?
Anh không hiểu câu hỏi. Lý do là hiển nhiên, lý do ở trong chính nó, không cần
giải thích. … Anh cười nụ cười của một người biết nhiều, người dù sao cũng biết
một điều, rằng đối với anh, ở châu Phi này không có biên giới và các quốc gia:
chỉ có một mảnh đất nóng bỏng, nơi em đi tìm anh” (tr.333-335).
Câu
chuyện nhỏ ấy, trong tiết đoạn “Trở dậy trong bóng tối”, còn là cái gì đó hơn
cả một ẩn dụ - nó ngang bằng với một huyền thoại.
“Cư
dân châu Phi là một mạng lưới khổng lồ rối rắm chồng chéo phủ lên khắp lục địa,
liên tục di chuyển, ai cũng là dân nhập cư bởi họ đều lang thang từ nơi này
sang nơi khác” (tr.32).
Kapuściński
khám phá cái mạng lưới huyền thoại khổng lồ đó, hiển nhiên trong chính nó, chứa
đựng lịch sử bí ẩn mà ông thấy là vượt khỏi khái niệm về thời gian, là một “sự
kéo dài vĩnh cửu” (tr.459), hay chính là cái mẫu gốc của huyền thoại về Người.
Nguyễn
Chí Hoan