Khả tính của những cái gọi là cấu trúc của
tiểu thuyết, nhân vật của văn học, v.v…nằm ở đâu trong hiện
hữu?
Italo Calvino, dưới một bút danh, từng
viết về một cuốn tiểu thuyết lừng lẫy khác của ông, cũng đầy chất huyễn tưởng,
rằng ở đó là “một thế giới chưa bao giờ hiện hữu song chứa đựng những điều đã
tồn tại và những điều hẳn đã có thể tồn tại, những phúng dụ về quá khứ, về hiện
tại, những câu hỏi về kinh nghiệm của chính mình” (Nam tước trên cây,
Nhã Nam & NXB Văn học, 2009, tr.367).
Một trang thiếu niên trèo lên cây và rồi sống
suốt một đời đầy sự kiện mà không bao giờ đặt chân xuống mặt đất nữa - vị Nam
tước kỳ lạ đó hẳn là vẫn ngồi trên một nhánh ngọn cái cây gia phả của anh chàng
Người Đọc may mắn và sẽ không có gì sai lạc nếu cũng khái lược với cùng một
cách hình dung như đoạn vừa dẫn ở trên về tiểu thuyết Nếu một đêm đông…;
và phát biểu như thế, ngoài việc là một trùng ngôn về tiểu thuyết, về hư cấu
văn chương, còn đem đến một sắc thái gợi ý và nhấn mạnh bởi nhắc tới “những câu
hỏi về kinh nghiệm của chính mình”.
Có thể không tránh khỏi một lối suy đoán,
nhưng “những câu hỏi về kinh nghiệm” chẳng phải không có vai trò gì ở chuỗi
mười cuốn tiểu thuyết - mà cuốn nào cũng chỉ trình ra cái được xem là chương mở
đầu - trong một tiểu thuyết trọn vẹn chỉ kể về việc đọc chưa hoàn tất chính nó,
việc đọc đã làm thay đổi cuộc đời cái-người-đọc-ấy, một sự đọc trở thành cuộc phiêu
lưu sẽ khiến người ta phát hiện tính không hoàn tất không hoàn hảo của cái thế
giới này - một phát hiện nhàm chán nếu bị dạy dỗ nhưng lại đầy xúc cảm khi tự
trải nghiệm cái vô vọng lớn lao đó, cái xúc cảm vô vọng bởi phát hiện thật sự
của những cuộc phiêu lưu chính là chúng không thể nào chấm dứt, không thể nào
ngừng sinh các mục tiêu mới, quyến rũ hay áp lực mới, mà hứa hẹn sau hết sẽ là
cái gì đó tiềm thức vẫn che giấu, là nơi không còn gì ngoài tầm mắt.

Đêm bạn ngủ không yên,
giấc ngủ của bạn giống như một dòng chảy gập ghềnh lúc chảy lúc dừng, cũng
giống như sự đọc cuốn tiểu thuyết, với những giấc mơ đối với bạn cứ như là cùng
một giấc mơ lặp đi lặp lại mãi. Bạn vật lộn với những giấc mơ ấy như với sự
sống vốn vô hình vô ý nghĩa, tìm kiếm một mẫu hình, một con đường ắt hẳn có đó,
giống như khi bạn khởi sự đọc một cuốn sách mà chưa biết nó sẽ đưa bạn đi theo
hướng nào. Bạn muốn là muốn khơi mở một không gian và thời gian trừu tượng và
tuyệt đối trong đó bạn có thể dịch chuyển, dấn mình theo một quỹ đạo chính xác,
rành mạch. (tr.43-44)
Vậy là cái kinh nghiệm đầu tiên hiện lên sau
khi bước vào thế giới sách - ta đã bước vào đó ngay từ phần mở đầu, với hình
ảnh nhân vật Người Đọc mà tác giả đề nghị, về việc đọc trong mọi tư thế và cảnh
huống, việc đọc loại trừ mọi thứ khác với đọc, ta đã bước vào theo chân nhân
vật Người Đọc trong hiệu sách, nơi, như mô tả, chứa chất vô tận những sách bạn
đã đọc và sẽ đọc và có thể đã đọc hay sẽ đọc - cái kinh nghiệm đầu tiên như
“câu hỏi” hiện lên từ đó lại là kinh nghiệm đầy ức chế thôi thúc từ việc đọc
những “cuốn tiểu thuyết” chỉ có phần đầu, “lặp đi lặp lại mãi ”: sự
lặp lại trên bình diện tình huống , được nhấn mạnh ở câu cuối cùng kết thúc
cuốn tiểu thuyết trên ấn bản này, (“Và bạn nói, “Tí nữa thôi,
anh sắp đọc xong Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino.”” -
tr.402), sự nhấn mạnh rõ ràng biến nó thành dạng thức tình huống cơ bản của
câu truyện, loại tình huống đã trải qua các biến thể khác nhau trên chuỗi mười
“cuốn tiểu thuyết”, giống nhau ở chỗ đều là những bản sách dở dang chỉ có phần
mở đầu.
Dường như mỗi tình trạng dang dở ấy đã hoàn
thành khi nó đẩy Người Đọc vào trải nghiệm dang dở kế tiếp, và vấn đề sự lặp
lại hay tính lặp lại đó mới đặc trưng cho kinh nghiệm này, bởi tình trạng gọi
là dang dở của những chương mở đầu của cả mười “cuốn tiểu thuyết” ở đây thực ra
hoàn toàn có thể không xem như bị dở dang, mà mỗi “chương mở đầu” đó đều được
xây nên theo cách một đơn nguyên đã tự đầy đủ trong chính nó, như một câu
chuyện hoàn chỉnh với cái kết mở, đầy dư âm, đầy gợi ý một cách xác định chứ
không mơ hồ, vẫn giữ được tính bí ẩn năng động của việc đời trong những tình
thế khủng hoảng. Sự lặp lại của chuỗi tình huống kết mở như vậy biểu đạt một
cách độc đáo tính không hoàn tất, tính phiêu lưu của các trải nghiệm nhân sinh
mà phương thức hiện động căn bản là lặp lại hết lần này sang lần khác.
Đôi khi tôi nghĩ về
chủ đề cuốn sách cần được viết như về một cái gì hiện hữu sẵn rồi: những ý nghĩ
đã nghĩ rồi, những đối thoại đã nói rồi, những câu chuyện xảy ra rồi, những nơi
chốn và bối cảnh đã thấy rồi; cuốn sách rồi sẽ chỉ đơn thuần là tương đương với
cái thế giới chưa được viết ra chuyển hóa thành sự viết. Những lúc khác, ngược
lại, tôi dường như hiểu rằng giữa cuốn sách cần được viết và những sự vật hiện
hữu sẵn rồi chỉ có thể có một thứ quan hệ bổ sung: cuốn sách phải là đối thể
được viết ra của cái thế giới không được viết ra; chủ đề của nó phải là những
gì không hiện hữu và không thể hiện hữu ngoại trừ khi được viết ra; nhưng sự
vắng mặt của nó được cảm nhận một cách mơ hồ bởi cái hiện hữu, trong sự bất
toàn của chính nó. (tr.265)
Tôi cứ suy ngẫm mãi về
cuộc trò chuyện cuối cùng với Người đọc đó. Có lẽ hành động đọc của anh ta mãnh
liệt đến nỗi nó ngốn trọn tinh chất của cuốn tiểu thuyết ngay từ đầu, cho nên
chẳng còn gì cho phần còn lại nữa. Điều này xảy ra với tôi khi viết: gần đây,
mỗi cuốn tiểu thuyết tôi khởi sự viết đều bị vắt kiệt nhanh chóng sau đoạn mở
đầu, như thể tôi đã nói hết tất cả những gì cần nói.
Tôi nảy ra ý tưởng
viết một cuốn tiểu thuyết bao gồm chỉ chương đầu của nhiều tiểu thuyết. Nhân
vật chính có thể là một Người đọc thường xuyên bị phá ngang không thể đọc hết.
Người đọc này mua cuốn tiểu thuyết mới A của tác giả Z. Nhưng đó là một ấn bản
bị lỗi, anh ta không thể đọc gì tiếp sau đoạn mở đầu…(tr.305)
Cái kinh nghiệm thứ hai hầu như biểu đạt toàn
bộ trong chương thứ “8” có tiêu đề “Trích Nhật ký của Silas Flannery”,
chương truyện giống như cái nền móng của cuốn tiểu thuyết này, một chương giàu
ý tưởng nhất trong một cuốn sách tuôn ra các ý tưởng như giếng phun tuôn nước.
Nhân vật nhà văn Silas Flannery, nổi
tiếng và ăn khách đến mức bị săn lùng bị giả mạo tác phẩm và phải lui về nơi
hẻo lánh giấu mình, v.v…, trong chương này viết ra những suy ngẫm lạ lùng cực
đoan đầy tính ẩn dụ về vai trò của văn học (cực đoan đến hài hước, nghiêm túc
đến buồn cười, song đó là một nụ cười Mona Lisa)sự đọc và sự viết cùng với
sách, kể từ những cuốn sách thánh thiêng, làm nên một chỉ dẫn toàn bộ về ý
nghĩa của thế giới bằng cách đưa cái thế giới này vào hiện hữu; và điều đó hàm
ngụ một gợi ý đến cái sự thật vô cùng xưa cũ đồng thời vẫn “ Nhật nhật tân hựu
nhật tân” không ngừng tái xuất mới mẻ và bí ẩn, gây choáng váng, khó tin, hầu
như chỉ có thể trải nghiệm mà không thể biểu đạt: thế giới này, cuộc đời ta,
tất cả đều là những câu chuyện, chỉ là một câu chuyện lớn.
Silas Flannery chính là tác-giả-hư-cấu
của những cuốn-tiểu-thuyết-dở-dang cấu thành Nếu một đêm đông… trên
ấn bản thực tế: vậy thì đây hẳn phải là cái dự án tiểu thuyết của ông ta, trong
đó, với một gợi ý ngầm ẩn nhưng rõ rệt, gồm cả cuốn “Nếu một đêm đông… của
Italo Calvino” (cũng vẫn dở dang, như nhân vật Người Đọc đã xác nhận qua
việc đọc chưa hoàn thành).
Trong cái kiến trúc hư cấu nhân đôi của cuốn
tiểu thuyết này, trên ấn bản thực của nó, khởi đầu đã ngầm giả thiết rằng mỗi
người đọc bất kỳ khi đọc đều phải có thể cảm nhận ít nhiều tác động so sánh từ
các hình ảnh hư cấu của chính mình trong nhân vật Người Đọc hay bộ đôi Người
Đọc Nữ - chị em Ludmila, Lotaria - các hình ảnh đầy chi tiết mà tuy vậy vẫn
luôn né tránh một cách dí dỏm để không rơi vào một “típ” người nào cụ thể (mặt
khác,các nhân vật Người đọc này tựa hồ chứa đựng một mẫu số chung về đọc mà hẳn
mỗi chủ thể đọc trên thực tế đều chia sẻ được, khiến cho hình ảnh Người đọc ở
đây có ngụ ý châm biếm nhẹ nhàng cái mẫu hình nhân vật văn học hiện thực nói
chung, một sự châm biếm phản tỉnh,theo lối giễu nhại hình thể qua hình
ảnh phản chiếu trong một tấm gương dị dạng; và ta sẽ gặp loại ảnh gương
dị dạng đó khắp nơi trong cuốn sách này ởnhững
hình ảnh, tình tiết, nhân vật, đảng phái và tổ chức quốc tế hay những trạng huống lịch sử
quốc gia nào đấy như là “những phúng dụ về quá khứ,
về hiện tại”, giấu sau lưng chúng một nụ cười mỉm bỡn cợt); và
trải nghiệm này, giản đơn theo kiểu Quả trứng Colomb, trước
hết đem lại một ấn tượng hiển nhiên có tính cảnh báo về phương diện “Người xa
lạ” của hình ảnh hư cấu, cái phương diện xung đối đương đầu với khuynh hướng
tiềm thức tự đồng hoá một cách “tự nhiên” của người đọc vào thế giới hư cấu của
câu chuyện, vào nhân vật truyện kể; nhưng rồi chính trên bình diện hư cấu, cuốn
tiểu thuyết đã để cho sự quay lại của khuynh hướng “đắm mình vào trang sách” đó
dường như là không tránh khỏi: Người Đọc đi dần vào thế giới truyện từ cuốn này
sang cuốn khác, mà ngôi xưng “Tôi” của anh ta không ngừng giao cắt với các nhân
vật người kể chuyện xưng “Tôi” ở các “cuốn tiểu thuyết”; và theo đó, bằng những
lời trần thuật - xen vào để mô tả một đoạn văn cảnh
nào đấy trong những “cuốn tiểu thuyết” anh ta đang đọc, biểu hiện vào đó xúc
cảm và ký ức của mình - bằng việc tìm kiếm truy đuổi những
phần còn ẩn giấu hay thất lạc của các “cuốn tiểu thuyết” này và tìm đến gặp
tác-giả-hư-cấu, nhân vật Người Đọc đã tự đồng hoá vào những câu truyện anh ta
đang đọc, khiến cuộc truy tìm những trang truyện dở dang trở nên câu chuyện đời
của anh ta - tìm kiếm những mảnh ghép đời mình,
một cuộc đời nguyên là truyện.
Tính
biểu trưng của nó thật rõ ràng, giản đơn một cách độc đáo: chủ thể đọc và đối
tượng đọc bên trong cuốn tiểu thuyết như một hình ảnh qua gương của chủ thể đọc
và đối tượng đọc có thực bên ngoài; hành động đọc, ở cả bên trong và bên ngoài,
được bộc lộ đã đóng vai trò cái tấm gương ấy; và, dĩ nhiên, chất tráng gương - cái
bề mặt trong sâu biến đổi khôn lường - không gì khác ngoài
trí tưởng tượng bị khich động bộc lộ cái thực chất phiêu lưu, khám phá và sáng
tạo của nó, cái thực chất mà, ở những mức độ khác nhau, giúp tạo ra
các-câu-chuyện-thời-gian-thực được gọi là cuộc đời.
Toàn
bộ cái kiến trúc đó, mang tính phân tích rõ rệt, lại trình hiện cuộc phiêu lưu
của chính tác-giả-hư-cấu - cuộc phiêu lưu không phải trong tư
cách nhân vật mà là trở thành nhân vật; một kinh nghiệm vô song, như biểu hiện
ở đây, nhưng mặt khác là một trong những kinh nghiệm phổ biến nhất.
Còn động từ “đọc” “to
read” thì sao? Liệu ta có thể nói “Hôm nay đọc” “Today it reads” như ta nói
“Hôm nay mưa” “Today it rains” hay không? Nghĩ kỹ, ta sẽ thấy đọc nhất thiết
phải là một hành động cá nhân, cá nhân hơn nhiều so với viết. Nếu ta giả định rằng
sự viết là nhằm vượt ra ngoài các giới hạn của tác giả, thì nó sẽ chỉ tiếp tục
có ý nghĩa khi nó được đọc bởi một người duy nhất và đi ngang qua những mạch
thần kinh của người này. Duy chỉ khả năng được đọc bởi một cá nhân nào đó mới
chứng tỏ rằng cái được viết ra có dự phần vào sức mạnh của sự viết, một sức
mạnh vượt quá một cá nhân. Vũ trụ sẽ tự biểu đạt về mình chừng nào một ai đó
còn có khả năng nói, “Tôi đọc, vì vậy (nó/cái đó) viết. (tr.272)
Đoạn phản biện luận trên trong nhật ký của
nhân vật nhà văn Silas Flannery đẩy đến cùng giả thiết về khả tính
của những gì cái viết tạo ra trong hiện hữu, cái giả thiết mà nhân vật
tác-giả-hư-cấu này trình bày như một suy tư về “những kinh nghiệm của chính
mình” do suy tư về người đọc gợi lên - trước đó ông ta đã suy ngẫm theo hướng tương tự về hành
động viết, nêu lên một chính đề về ước muốn giảm trừ triệt để sự hiện diện con
người cá nhân của tác giả là mình trong những gì mình viết ra, để đồng nhất
được cái viết ra với cái “có thực”, đến mức xoá bỏ thực chất cá nhân của hành
động viết. Và ẩn ý của cái giả thiết này nằm ở sự xoá bỏ: một thứ quan hệ
nhân-quả ở đây, khi chỉ còn sự đọc là cái duy nhất biểu thị rằng sự
viết “tiếp tục có ý nghĩa”, tức thì khả tính do sự viết sẽ “tiếp
tục” trong những cái được viết ra, do sự đọc.
Những suy tư đó hé lộ cái nền tảng ý tưởng của
câu chuyện đã ngay từ đầu mở ra bằng hình ảnh Người Đọc trong thế giới sách mà
hành động đọc là đặc trưng cho không-thời gian hiện hữu, thực chất ngụ ý rằng
việc đọc tạo ra độ lâu và biên độ dãn nở của hiện hữu đó. Những “cuốn tiểu
thuyết” lần lượt mở ra theo bước kiếm tìm của Người Đọc mang lại chuỗi hình ảnh
cho khả tính của những cái được viết ra: cho dù cuộc đời vốn là những câu
chuyện, một câu chuyện lớn, song chỉ sự viết ra mới đem chúng vào hiện hữu;
hoặc, xuôi theo chân Người Đọc, những cái được viết ra khiến cho hành động đọc
mãi mãi không hoàn tất, luôn luôn là một con đường.
Nhà-văn-trong-gương, cái ông Silas Flannery
tác-giả-hư-cấu đó, đã đặt mình và các nhân vật Người đọc vào “những đám mây
ngôn ngữ” của các “Hoàn cảnh hậu-hiện đại” ( J.F Lyotard, Nxb Tri Thức, 2008).
Khi các hình ảnh bỗng đã trở thành “thế giới”, thì hư cấu liệu có trở nên một
cảnh tượng phì đại dư thừa hay không?
Hy vọng là không, ngay cả nếu sự thực hóa ra
là khả tính của văn chương tương ứng hoàn toàn với khả tính của hiện hữu và
“thế giới” trùng khớp hoàn toàn với chuỗi những cuốn sách dở dang.
Nguyễn Chí Hoan
* Đọc Nếu một đêm đông có người
lữ khách, tiểu thuyết của Italo Calvino, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & Nxb Văn học, 2011