|
|
 |
Vượt thoát không cùng (exclusive) | “Các nhà đạo đức và các nhà viết chân dung mô tả
những nỗi khổ sở của chúng ta, trong khi Pascal mô tả sự khốn cùng của chúng
ta.” - Jean-François Revel dẫn lời Cioran; đó có thể là một chỉ dẫn về điều ta
có thể nghĩ khi đọc tự truyện của một người. Như vậy, không chỉ có những nỗi khổ
sở; và mặc dù không phải lúc nào cũng hiện ra, tình trạng khốn cùng luôn luôn
chực chờ phía sau đó hay chính là nguồn cơn những khổ sở đó. Cô gái lai da trắng kể cho ta câu chuyện hồi tưởng về cuộc vượt thoát “giấc mơ phủ định dòng giống của mình” (tr.119), cuộc vượt thoát từ tình thế một cô bé con lai Pháp-Việt sinh vào thời thuộc địa cứ phải “bám lấy” giấc mơ vô vọng ấy suốt thời niên thiếu và cả cho đến tuổi vị thành niên. Bởi vậy, đây còn là một câu chuyện nữa: câu chuyện về bản thân cái ký ức đó, một kiểu “Đi tìm…”, trải nghiệm lại cái nhận thức về thời gian, cái xúc cảm cốt yếu về độ dài hiện hữu dưới vẻ thông thường của cảm nhận về thời tính, đã sớm bộc lộ tính cốt yếu của nó bởi cảnh đơn độc một tâm trí non nớt lâm vào, cảnh bơ vơ đe dọa chứng mất cảm giác về bản thân: “Tôi đang trải nghiệm sự liên tục của đời mình bằng việc góp nhặt những kỷ niệm để xây dựng cho mình một tiểu sử sau này” (tr.105).

Đó là hai câu chuyện đi cùng một hướng: đầu tiên chuyện kể
về ký ức khởi lên: “Tuổi ấu thơ của tôi chỉ còn là bóng đêm trong ký ức […] Tôi
vẫn còn giữ từng mảnh ký ức về những cuộc dịch chuyển…” (tr.9); và như một đoạn
duo, chính ký ức lập tức cất giọng:
“Tôi nhớ… cảm giác dìu dịu trên tấm lưng trần của bà vú, da thịt vừa nhão vừa
đàn hồi. Tôi bám vào thịt da bà như bám vào tấm võng ấm áp và mịn mượt…”
(tr.9-10).
Có một khoảng cách mỏng manh tinh tế giữa hai lời kể cùng
xưng “Tôi” đó. Chúng gối vào nhau như sóng hay như ngói lợp nhà. Những trường
đoạn cái “Tôi” quá vãng lên tiếng, ta thấy được những cảnh, người, sự việc sống
động cho đến từng chi tiết thoáng qua, chẳng hạn như: “… tiếng thở gấp rồi
tiếng rên khe khẽ của cô chủ” sau tấm liếp tre mỏng, khiến con bé giúp việc là
“Tôi” ngồi trông hàng phía ngoài cảm thấy “một làn sóng nồng ấm lan tỏa phía
bụng dưới” (tr.147); và các tình tiết, các chân dung sinh động tỉ mỉ như thế
xây nên hình ảnh cái “Tôi” bên trong ký ức - như chính lời người kể chuyện,
chúng mang lại cảm giác liên tục cho một hiện hữu bị chối từ và tự chối từ. Trong
khi đó, giọng kể bên ngoài, tức giọng kể về cái ký ức ấy, thường cho ta thấy
những toàn cảnh và viễn tượng buồn bã, dẫu cho giọng điệu là thanh thản hay
điềm đạm hơn; chẳng hạn, khi nhớ về cuộc tản cư vội vã trong đêm khỏi thị xã
Tuy Hòa đang tiêu thổ kháng chiến: “Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy cái không
thể vãn hồi. Trong ký ức tôi sẽ không bao giờ xóa nhòa nỗi đau đớn xót xa của
cái đêm tang tóc trước Tuy Hòa bị tàn phá trong biển lửa” (tr.132).
Khoảng cách tinh tế giữa hai giọng kể đó là một khoảng cách
khoan hòa và có tính bổ sung; giọng kể bên ngoài xác nhận tính liên tục của cái
“Tôi” bên trong ký ức, tức là xác nhận cái căn cước của chính mình đã hình
thành qua cuộc vượt thoát giấc mơ chối bỏ dòng giống, cái cuộc vượt thoát dường
như đã tìm lối ra ở một điểm trung hòa cả về tính hợp thức mà nó tìm kiếm -
việc được cấp giấy khai sinh lần đầu tiên năm mười lăm tuổi khiến cô gái hai
dòng máu Pháp-Việt mang thêm cái họ người Hoa của ông bố dượng - cả về tính hợp
lý của sự có mặt đứa con lai khi mà đứa con ấy chứng tỏ được năng lực trí tuệ,
làm rạng danh cho gia đình đã từng miễn cưỡng chở che nó, tạo lập được vị trí
xứng đáng trong xã hội đã từng đẩy những người như nó vào trại trẻ mồ côi chỉ
để gìn giữ một cách bản năng cái tính đồng nhất tương đối và có vẻ tiện lợi về
chủng tộc.
Tuy nhiên sự thực là cái điểm trung hòa đó phải rất lâu về
sau mới thấy được, khi mà cái giọng kể về ký ức đã tách rời hằn cái “Tôi” bên
trong ký ức đó: “Tôi yêu Việt Nam bằng mối tình không được đáp lại […] không
phải lối yêu của đứa trẻ đau khổ, mà bằng trí óc của người trưởng thành, phân
biệt được cái gì đất nước đã cho tôi và cái gì nó đã từ chối” (tr.404).
Nhịp điệu đặc trưng của cuốn tự truyện này hình thành như
vậy, giản dị, tự nhiên, thẳng thắn, thấm đượm, toát lên cảm giác đáng tin từ ấn
tượng về sự minh bạch; và cái cách nhịp điệu ấy duy trì cho đến dòng cuối cùng
dường như còn nói lên những gì vẫn hàm chứa trong chất suy tưởng rõ rệt của cấu
trúc kể truyện này.

Tác giả Kim Lefèvre (Nguồn: Internet)
Cái “Tôi” cả bên trong và bên ngoài cái ký ức đặc thù này
hiểu rõ điều đó và đã minh định ngay từ đầu: cả đời người đàn bà trong xã hội
này không cần tính thời gian, chỉ cần chia làm mấy giai đoạn lớn, từ thơ ấu,
đến lúc thấy kinh tức có thể lấy chồng, rồi làm mẹ, mà nếu may mắn sinh được
đứa con trai… (tr.7).
Có thể trong tình yêu với người mẹ, đứa con đã không nỡ đặt
bà trước câu hỏi Tại sao?, câu hỏi mà cái “Tôi” bên ngoài ký ức này đã tự trả
lời: bởi cái di sản này lại gợi lên quá khứ bị đô hộ và cưỡng bức; và, có thể,
với tư cách người trưởng thành, câu hỏi hàm ngụ của nó còn rộng lớn hơn: tại
sao lại là “Tôi” phải gánh hậu quả một di sản không do tôi làm ra, phải làm một
trong những vật tế thần cho “dòng giống”? trong khi “Cả đời, tôi đã cố chứng
minh sự vô tội của tôi bằng cách tuân theo mọi luật lệ của xã hội. Tôi đã yêu
sâu sắc mảnh đất hun đúc nên tôi…” (tr.407).
Chất hùng biện của lời kể về ký ức đó thấm một nỗi sầu thảm
chứa chất sâu xa. Nhiều hoàn cảnh khác nhau có thể gieo khổ sở; nhưng chỉ những
phông màn lớn của lịch sử mới gieo sự khốn cùng - như ở trên đã dẫn. Ở đây thì cái
“Tôi” bên trong ký ức dường như không thể xóa đi chấn thương bị ruồng bỏ và bơ
vơ từ thơ ấu: những gợi nhớ cuối cùng khi máy bay cất cánh, trong nước mắt ứa
ra, “tôi nhìn thấy lũy tre, cái ao của thời thơ ấu, những gương mặt thân thương
và tấm lưng trần của bà vú già đã cõng tôi trên những đường phố Hà Nội một đêm
mưa phùn…” (tr.408).
Để cho ký ức nói lời sau hết, lời kể về ký ức đó đặt cuộc
vượt thoát đó lên một đường tiệm cận.
Nguyễn Chí Hoan
* Đọc Cô gái lai da
trắng, tự truyện của Kim Lefèvre, Dương Linh-Hoàng Phong dịch, Nhã Nam
& Nxb Hội Nhà văn, 2011 Số lượt đọc:
286
-
Cập nhật lần cuối:
11/07/2011 11:44:46 AM | |
|
|
|
|
|
Cuốn sách như một bộ bách khoa toàn thư
độc đáo và cuốn hút với sức hấp dẫn của văn chương hạng nhất này đã ra đời từ
năm 1980, song nếu tính theo thang thời gian vũ trụ thì nó chỉ vừa được viết
xong, đúng như tinh thần một câu trong sách này - “Vũ trụ chỉ mới được khám phá
ngày hôm qua” (tr.571).
|
|
|
|
|