Nạn
đói năm 1945 ở Việt Nam được xem là nạn đói thảm khốc nhất trong lịch sử nhân
loại, cướp đi tính mạng của hơn hai triệu người vô tội và để lại biết bao hậu
quả tang thương cho nhiều thế hệ. Nhưng chìm lấp giữa vô số biến động của thời đại,
tiếng kêu phẫn uất thấu tận trời xanh của nạn nhân năm Ất Dậu đôi lúc tưởng chừng
rơi vào quên lãng. Mãi tới năm 1995, sự ra đời của công trình nghiên cứu vĩ đại
Nạn
đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử do Giáo sư Văn Tạo và
Giáo sư Furuta Motoo chủ biên mới giúp hậu thế có được cái nhìn toàn cảnh đa
chiều sâu sắc và chân xác về sự kiện đau xót này. Dựa trên khối tư liệu đồ sộ được
xử lý nghiêm túc hiếm có, công trình vừa dựng lại thảm trạng chết đói của người
Việt, vừa phân tích cặn kẽ tội ác của phát xít Nhật. Với sự hợp tác của đội ngũ
tri thức từ cả hai nước, đây là công trình công phu độc nhất có cái nhìn khách
quan thấu suốt vào sự thật lịch sử nạn đói năm 1945 ở Việt Nam. Hơn mười lăm năm
kể từ ngày công bố, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử vẫn còn
nguyên giá trị.
***
Trích Nạn
đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NHẬT BẢN VỀ TỘI ÁC CHIẾN TRANH CỦA PHÁT XÍT NHẬT TẠI VIỆT NAM
I.
Về mặt Quân sự và chính trị
Như mọi người đã biết, mục tiêu chiến
lược của phát xít Nhật trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai là dùng vũ
lực để chia lại thị trường châu Á, tức là xác lập khu vực kiểm soát riêng của
mình dưới chiêu bài “Vùng thịnh vượng chung Đại Đông Á”.
Đến ngày nay, rất ít người phủ định
tính xâm lược của hành động phát xít của Nhật Bản thời đó, nhưng riêng về Đông
Nam Á, một số người vẫn nghĩ rằng hành động Nhật Bản đánh các thế lực thực dân
Âu-Mỹ ở Đông Nam Á, đã góp phần ít nhiều vào việc “giải phóng dân tộc các nước
Đông Nam Á”.
Những nhà sử học tiến bộ Nhật Bản đã và
đang phê phán nhận định như vậy. Một mặt, ngay cả trong ý đồ chủ quan của giới
cầm quyền Nhật Bản thời bấy giờ, cái gọi là “Giải phóng Đại Đông Á” bị coi như
là việc lệ thuộc vào yêu cầu quân sự và kinh tế của Nhật Bản. Mặt khác, lúc đó
sức lực của đế quốc Nhật Bản đã yếu đi nhiều, nếu không tổ chức được hợp tác
tích cực của nhân dân các nước Đông Nam Á thì Nhật Bản không thể duy trì được
khu vực kiểm soát rộng lớn ở Đông Nam Á. Phong trào giải phóng dân tộc của nhân
dân các nước Đông Nam Á đã trưởng thành vượt bậc so với thời kỳ Chiến tranh thế
giới thứ nhất nên phát xít Nhật khó mà thu hút được sự hợp tác của nhân dân các
nước ngoài với thủ đoạn dùng con bài “độc lập dân tộc”. Phát xít Nhật Bản đã tổ
chức những đoàn thể quần chúng có tính chất nửa vũ trang ở các nước Đông Nam Á,
nhất là ở Inđônêxia và Miến Điện, nhưng những người có chân trong đoàn thể này
dần dần thấy rõ tính chất tàn bạo của sự kiểm soát Nhật Bản và tính giả nhân
giả nghĩa của con bài “Giải phóng Đại Đông Á” của Nhật Bản. Chính sự giác ngộ
như vậy đã thúc đẩy sự phát triển phong trào giải phóng dân tộc, chứ không phải
là những hành động của Nhật Bản đã góp phần vào việc phát triển phong trào.
Chính sách của Nhật Bản đối với Đông
Dương nói lên một cách hiển nhiên tính chất giả nhân giả nghĩa của con bài
“Giải phóng Đại Đông Á” của phát xít Nhật Bản. Với cách nhìn như vậy, bài viết
chung của tôi và ông Shiraishi năm 1976 đã phân tích hai vấn đề: nguyên nhân
chính tại sao Nhật Bản lấy chính sách “duy trì hiện trạng” trong một thời gian
khá lâu dài từ khi quân đội Nhật xâm nhập Đông Dương vào năm 1940 đến cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945; lý do tại
sao Nhật Bản trao trả “độc lập” cho ba nước Đông Dương ngay sau cuộc đảo
chính và bản chất của chính sách này. Ở đây, xin phép giới thiệu nội dung tóm
tắt của bài này.
Như mọi người đã biết, khi chiến tranh
Thái Bình Dương bùng nổ, quân đội Nhật Bản đã lật đổ các chính quyền thực dân
Âu-Mỹ ở khắp Đông Nam Á. Tuy vậy, chỉ ở Đông Dương, Nhật Bản lấy chính sách
“duy trì hiện trạng”, tức là hợp tác với thực dân Pháp. Tại sao làm như vậy?
Đương nhiên, khi ấy bọn Đờcu đứng về
phía bọn Pêtanh là một yếu tố quan trọng. Nhưng đó là một yếu tố mà thôi. Ở đây
chúng tôi đi sâu nghiên cứu những yếu tố khác khiến cho chính phủ Nhật Bản lấy
chính sách “duy trì hiện trạng” làm chính sách đối với Đông Dương.
Khi gây cuộc chiến
tranh Thái Bình Dương, nhà đương cục Nhật Bản đã nghi ngờ về lực lượng của
mình. Chúng thừa biết sức mạnh của Nhật Bản chắc không chịu
nổi cuộc chiến tranh trường kỳ với các nước Đồng minh, và cái gọi “Vùng thịnh
vượng chung Đại Đông Á” thật ra là “vùng suy vong chung”. Vì vậy, chúng đã muốn
thừa dịp chiến thắng của phe phát xít tại châu Âu để chiếm đóng chớp nhoáng các
nước Đông Nam Á và kịp thời điều đình với địch thủ. Khi quyết định mục đích của
cuộc chiến tranh “Đại Đông Á” (tức là chiến tranh với Mỹ, Anh và Hà Lan), trong
giới cầm quyền Nhật Bản đã có phái khăng khăng chủ trương chiến tranh với mục
đích “Giải phóng Đại Đông Á”, nhưng đại bộ phận người cầm quyền đã phản đối ý
kiến này, vì vấn đề cấp bách nhất đối với Nhật Bản là chiếm đóng Đông Nam Á một
cách nhanh chóng, chứ không phải là giải phóng các dân tộc Đông Nam Á. Cuối
cùng, đạo dụ tuyên bố chiến tranh của Thiên hoàng chủ trương rằng mục đích
chiến tranh là “tự tồn tự vệ” của đế quốc Nhật Bản.
Điều này cắt nghĩa tại sao Nhật Bản giữ
chính sách “duy trì hiện trạng” đối với Đông Dương trong những ngày đầu của
cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Hội nghị liên tịch giữa Đại bản doanh và
chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 1941 quyết định rằng Nhật Bản sẽ giữ chính sách
“duy trì hiện trạng” đối với Đông Dương sau cuộc chiến tranh Thái Bình Dương nổ
ra. Khi ấy Nhật Bản muốn ăn cướp những tài nguyên và thống trị các nước Đông
Nam Á một cách dễ dàng nhất. “Yếu cương hành chính chiếm địa ở phương Nam”
(Nghị quyết Hội nghị liên tịch giữa Đại bản doanh và chính phủ ngày 20 tháng 11
năm 1941) chỉ rõ: “Hết sức lợi dụng những cơ quan thống trị cũ của các chính
quyền thực dân Tây Âu trong việc thi hành quân chính”. Nếu có thể lợi dụng được
những cơ quan chính trị và kinh tế cũ thì Nhật Bản không cần chịu khó lập lại
an ninh, hệ thống kiểm soát và những xí nghiệp quan trọng, v.v... cho quân đội
Nhật Bản. Theo quan điểm như thế thì chính sách hợp tác với thực dân Pháp ở
Đông Dương không phải là chính sách khác thường, mà chính là chính sách tiêu
biểu của Nhật Bản đối với Đông Nam Á trong thời kỳ này. Và trên thực tế, nhờ có
sự tồn tại của chính quyền thực dân Pháp, Nhật Bản không tốn tiền nhiều mà vơ
vét được nhiều của cải ở Đông Dương so với các nước khác ở Đông Nam Á. Đối với
nhân dân Việt Nam, tình hình như vậy thật là “một cổ hai tròng”. Điều này tôi
sẽ nói thêm ở phần kinh tế.
Mặc dù sự tồn tại của chính quyền thực
dân Pháp có lợi cho Nhật Bản, nhưng giữa Nhật - Pháp còn có mâu thuẫn gay gắt.
“Hai con chó không thể ăn chung một miếng mồi béo bở” - nhận định của Đảng Cộng
sản Đông Dương rất đúng. Lúc bấy giờ Nhật Bản đang hợp tác với thực dân Pháp,
nhưng đã không tin vào thái độ “thân Nhật” của chúng. Nhật Bản coi Đông Pháp là
“Thế lực trung gian trong trật tự mới ở Đông Á”[1].
Nhà đương cục Nhật Bản lo sợ nếu phe phát xít bị đánh bại ở châu Âu thì ảnh
hưởng bất lợi ấy sẽ đến Đông Dương và thái độ “thân Nhật” của chính quyền Đờcu
sẽ ngày càng suy yếu. Để đối phó với tình hình đó, một phái trong các nhà đương
cục Nhật Bản, nhất là một số nhà ngoại giao chủ trương rằng Nhật Bản phải chuẩn
bị truất quyền của chính quyền Đờcu[2].
Nhưng một phái khác, nhất là Bộ Tổng tham mưu Lục quân, phản đối ý kiến này, vì
nếu lấy chính sách “quá khích” như thế thì sẽ mất trật tự an ninh ở Đông Dương
- căn cứ hậu cần quan trọng đối với cả quân đội Nhật Bản ở Đông Nam Á[3].
Vì thế cho nên Nhật Bản âm mưu làm cho chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương
tách khỏi chính phủ Pháp ở mẫu quốc trước khi có ảnh hưởng bất lợi ấy tới Đông
Dương.
Sau khi quân đội Đồng minh đánh vào
Angiêri tháng 11 năm 1942, Nhật Bản lấy chính sách làm cho chính quyền Đông
Dương tách khỏi chính quyền mẫu quốc một cách bí mật làm chính sách chính.
Trong việc thương lượng với chính quyền Đờcu từ tháng 11 năm 1942 đến tháng
Giêng năm 1943 Đại sứ Nhật Bản tại Đông Dương đã yêu cầu Đờcu không nên theo
chỉ thị của chính phủ Pháp quốc, mà phải căn cứ vào phán đoán riêng của mình,
tăng cường hợp tác với Nhật Bản. Tháng 2 năm 1943, quân đội Nhật Bản đổ bộ vào
vịnh Quảng Châu. Lúc đó chính quyền Đờcu chấp nhận yêu cầu Nhật Bản trước khi
chính phủ Pháp chấp nhận yêu cầu đó. Nhà cầm quyền Nhật Bản rất hoan nghênh
hành động này của chính quyền Đờcu.
Vào năm 1943, trên mặt trận châu Âu,
quân Đức Quốc xã và phát xít Ý đã bắt đầu chạy dài. Trên mặt trận Thái Bình
Dương, sau khi thua trận ở đảo Guadalcanal vào cuối năm 1942, quân đội Nhật Bản
tiếp tục thua nặng nề. Chiến lược thắng nhanh, thừa thế thắng của phe phát xít
tại châu Âu, của Nhật Bản hoàn toàn trở thành ảo tưởng. Nhật Bản phải tìm đường
tự cứu. Một cách tự cứu của Nhật Bản là dùng thủ đoạn giả nhân giả nghĩa lừa
dối các dân tộc châu Á, hòng vơ vét của cải nhân dân châu Á nhiều hơn nữa, bắt
thanh niên châu Á tham gia cuộc chiến tranh.
“Đại cương chỉ đạo chiến lược Đại
Đông Á” (Nghị quyết Hội nghị trước mắt Thiên hoàng ngày 31 tháng 5 năm 1943)
chủ trương rằng Nhật Bản sẽ trao trả “độc lập” cho hai nước Miến Điện và Phi
Luật Tân trong vòng “Vùng thịnh vượng chung Đại Đông Á mà nước Nhật Bản làm
minh chủ”. Ngày 5 tháng 11 năm 1943, Nhật Bản tổ chức Hội nghị Đại Đông Á để
lừa bịp các dân tộc châu Á.
Giữa lúc đó, trong giới cầm quyền Nhật
Bản có một vài người đề nghị Nhật Bản truất quyền thực dân Pháp tại Đông Dương
để trừ hậu họa. Bộ Ngoại giao và Đại sứ phủ Nhật Bản tại Đông Dương chủ trương
rằng, trong chính quyền Đờcu có những người thuộc phe Đờ Gôn, nên Nhật Bản
không còn tin cậy được nữa vào chính quyền Đờcu, phải truất quyền thực dân Pháp
ở Đông Dương và trao trả “độc lập” cho các nước gọi là “nước Đông Kinh”, “nước
An Nam” và nước Lào theo “tinh thần tuyên cáo chung” của Hội nghị Đại Đông Á[4].
Quân đoàn Nhật Bản đóng ở Đông Dương lấy cớ truất quyền, muốn tăng cường lực
lượng quân sự của mình và chủ trương rằng nếu truất quyền thì không thể lợi
dụng những cơ quan thống trị cũ được nữa, nên cần phải “mắc mồi tốt cái gọi là
độc lập” cho người bản xứ để động viên nhân dân Đông Dương vào chiến tranh[5].
Nhưng hồi ấy, Bộ Tổng tham mưu Lục quân
còn nghĩ rằng, chỉ dựa vào chính sách làm cho chính quyền thực dân Pháp tại
Đông Dương tách khỏi chính phủ mẫu quốc là có thể giữ gìn được trật tự ở Đông
Dương. Chúng không muốn gieo gió gặt bão và phản đối ý kiến của các cơ quan
khác kể trên. Cuối cùng, theo chủ trương của Bộ Tổng tham mưu Lục quân, ngày 24
tháng 1 năm 1944, Hội nghị liên tịch Đại bản doanh và chính phủ quyết định
rằng: khi chính phủ Visi tại Pháp đổ sụp thì Nhật Bản làm cho chính quyền Pháp
tại Đông Dương hoàn toàn tách khỏi chính phủ mẫu quốc, khi ấy nếu tình hình bắt
buộc phải làm thì quân đội Nhật Bản sẽ phát động vũ lực của mình, trong trường
hợp ấy, Nhật Bản cố dựa vào hệ thống cai trị của thực dân Pháp nhằm hạn chế
phong trào dân tộc phát triển mạnh mẽ và làm mất ổn định.
Như vậy, đến năm 1944, chính sách “duy
trì hiện trạng” đối với Đông Dương của Nhật Bản chưa thay đổi cơ bản. Một yếu
tố khiến Nhật Bản lấy đó làm chính sách lâu dài là nó kết hợp với chính sách
làm cho chính quyền thực dân Pháp tách khỏi chính phủ mẫu quốc như trình bày
trên.
Chính vì chính sách như thế và mặt khác
vì sức mạnh to lớn của phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Nhật Bản không thể bồi dưỡng được thế lực tay
sai của mình có ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân.
Ở Pháp, ngày 20 tháng 8 năm 1944, chính
phủ Visi sụp đổ. Ngày 29 tháng 8, quân Đồng minh giải phóng thành phố Pari,
chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa Pháp đóng ở Pari do tướng Đờ Gôn làm chủ
tịch. Đi đôi với những thất bại nặng nề ở miền Bắc Miến Điện, quân đội Nhật Bản
cũng đang thua nhiều trên mặt trận Thái Bình Dương. Trong tình hình đó, nhà cầm
quyền Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu chính sách mới đối với Đông Dương. Ngày 14
tháng 9 năm 1944, Hội nghị tối cao chỉ đạo chiến tranh (Hội nghị liên tịch giữa
Đại bản doanh và chính phủ cũ) quyết định chính sách mới như sau: Trước mắt,
đối với Đông Dương vẫn còn lấy chính sách “duy trì hiện trạng”, nhưng đồng thời
chuẩn bị phát động vũ lực để đối phó với chuyển biến lớn của tình hình Pháp và
Đông Dương. Nếu chính quyền thực dân Pháp chống lại, quay súng bắn lại Nhật thì
quân đội Nhật Bản sẽ truất quyền thực dân Pháp.
Nhưng hồi ấy, tức là từ tháng 10 đến
tháng 12 năm 1944, quân đội Nhật Bản tập
trung sức vào chiến dịch Phi Luật Tân. Đông Dương trở thành căn cứ hậu phương
lớn nhất cho chiến dịch này, nên Bộ Tổng tham mưu Lục quân muốn giữ gìn trật tự
ở Đông Dương, không cho phép phát động vũ lực tại chỗ[6].
Sau khi thua trận ở Phi Luật Tân, đối
với Nhật Bản, Đông Dương không còn là hậu phương, mà thật ra là tiền tuyến. Nhà
cầm quyền Nhật Bản sợ trong một thời gian ngắn quân Đồng minh sẽ kéo vào Đông
Dương. Điều đó khiến cho nhà cầm quyền Nhật Bản quyết định phát động vũ lực
truất quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Ngày 17 tháng Giêng năm 1945, Đại bản
doanh Nhật Bản quyết định chính sách đó[7].
Khi ấy các cơ quan Nhật Bản có ý kiến
khác nhau về phương châm thống trị Đông Dương sau cuộc đảo chính.
Đại sứ phủ tại Đông Dương chủ trương
như sau: Mục đích của cuộc đảo chính nên là trao trả “độc lập” cho các nước
Đông Dương, một mặt vì đấu tranh chính trị trên trường quốc tế, mặt khác vì nếu
không làm như vậy thì chắc cách mạng Việt Nam sẽ nổ ra. (Bộ Ngoại giao Nhật Bản
đã biết và sợ phong trào giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh
đạo ngày càng phát triển. Một văn kiện Bộ Ngoại giao Nhật Bản viết ra ngày 2
tháng 11 năm 1944 dưới đầu đề “Vấn đề Đông Pháp” nói rõ: “Hoạt động của phong
trào độc lập của Cộng sản căn cứ vào vùng biên giới Việt - Trung phát triển
mạnh gây ra tình hình nguy hiểm cho chúng ta”). Sau cuộc đảo chính, Nhật Bản
trao trả ngay “độc lập” cho các nước Đông Dương và tổ chức “Liên bang Đông
Dương” bao gồm ba nước Đông Dương. Lập chính phủ “An Nam” do “phái độc lập” làm
thủ lĩnh, tức là chính phủ bù nhìn thân Nhật[8].
Quân đoàn Nhật Bản
đóng ở Đông Dương (hồi ấy gọi là Quân đoàn thứ 38), nhất là Tổng tư lệnh quân
đoàn Tsuchihashi, có chủ trương khác như sau: Mục đích của cuộc đảo chính là sự
chuẩn bị chiến dịch đối phó với quân Mỹ sẽ đổ bộ vào Đông Dương. Để tránh khỏi
mất trật tự, đối với Phủ Toàn quyền thì nhân viên người Nhật thay người Pháp,
đối với các cơ quan cấp dưới thì cố giữ lại nhân viên cũ. Sau khi khôi phục
được trật tự thì mới trao trả “độc lập” cho ba nước Đông Dương. Khi ấy, để
tránh khỏi làm hỗn loạn, không nên thay vua An Nam, tức là cố giữ Bảo Đại và
phản đối Cường Để về nước làm thủ lĩnh[9].
Tại Tokyo cũng có sự xung đột giữa Bộ
Tổng tham mưu Lục quân với Bộ Ngoại giao về vấn đề mục đích của cuộc đảo chính
và vấn đề trao trả “độc lập”. Bộ Ngoại giao chủ trương rằng mục đích phải là
“giải phóng dân tộc” và trao trả ngay “độc lập” cho các nước Đông Dương. Bộ
Tổng tham mưu chủ trương rằng mục đích đảo chính là “tự tồn tự vệ” của quân đội
Nhật Bản, và vấn đề trao trả “độc lập” không phải là vấn đề cấp bách. Trong Hội
nghị tối cao chỉ đạo chiến tranh ngày 1 tháng 2 năm 1945, chủ nhiệm Cục Tác
chiến của Bộ Tổng tham mưu nói rằng, ở An Nam, chúng ta chưa nắm được vị thủ
lãnh “độc lập dân tộc” đáng kể, cho nên làm sao chúng ta trao trả “độc lập”
được. Hội nghị này quyết định mục đích của cuộc đảo chính là “tự tồn tự vệ”
theo chủ trương Bộ Tổng tham mưu, nhưng về vấn đề trao trả “độc lập” thì chưa
quyết định được rõ.
Hồi ấy, một vấn
đề khác đã xảy ra. Ngày 10 tháng 12 năm 1944, Liên Xô ký kết hiệp ước đồng minh
với chính phủ lâm thời Pháp. Điều đó khiến cho nhà cầm quyền Nhật Bản lo sợ là,
nếu Nhật Bản truất quyền thực dân Pháp ở Đông Dương thì chắc chắn mối quan hệ
Nhật Bản và Liên Xô trở nên xấu hơn. Lúc bấy giờ, nhà cầm quyền Nhật Bản có ảo
tưởng nhờ Liên Xô làm trung gian để điều đình với các nước Đồng minh, cho nên
chúng rất mong muốn giữ được mối quan hệ bình thường với Liên Xô. Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao Nhật Bản chủ trương rằng Liên Xô luôn luôn ủng hộ độc lập dân tộc,
nên nếu sau cuộc đảo chính ở Đông Dương, Nhật Bản trao trả ngay “độc lập” cho
các nước Đông Dương thì Liên Xô chắc không can thiệp vào việc này và sẽ giữ
được mối quan hệ bình thường giữa Nhật Bản và Liên Xô. Cuối cùng, Bộ Tổng tham
mưu Lục quân cùng đồng ý với ý kiến đó và tán thành lấy chính sách “trao trả
độc lập ngay” sau cuộc đảo chính. Hội nghị tối cao chỉ đạo chiến tranh ngày 26
tháng 2 năm 1945 đã quyết định như vậy.
Đặc điểm chính của chính sách “trao trả
ngay độc lập” là ở chỗ quân đội Nhật Bản coi chính sách này như là chính sách
để đối phó với các vấn đề trên trường quốc tế mà thôi. Đối với họ thì Bảo Đại
ra tuyên bố “độc lập” và lập một chính phủ là dễ lừa bịp được dư luận, mà không
có thế lực thực chất gì cả, thế là đầy đủ rồi. Quan tâm chủ yếu của họ vẫn là
làm sao cho tình hình sớm ổn định sau cuộc đảo chính để khỏi gặp khó khăn về
quân sự và giữ nguyên các cơ quan chính quyền của thực dân Pháp.
Chính sách của
phát xít Nhật Bản đối với Đông Dương trong thời kỳ này không những chỉ thể hiện
tính chất giả nhân giả nghĩa mà còn thiếu tính chất hệ thống. Vì thế cho nên,
sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật Bản không thể làm chủ được
tình hình Đông Dương. Thay thế ai làm chủ? - Đó là nhân dân Đông Dương. Cách
mạng Tháng Tám của nhân dân Việt Nam chứng tỏ điều đó một cách hiển nhiên.
[...]
[1] Phần “Ngày 9 tháng 11 năm 1942” của Nhật
ký chiến tranh bí mật của Đại bản doanh (Tài liệu của Bộ Quốc phòng).
[2]. Đại
sứ phủ Nhật Bản tại Đông Dương và một số quân nhân bắt tay vào việc “bồi dưỡng
người An Nam” thân Nhật Bản. Từ đầu năm 1942, một số người chủ trương Nhật Bản
phải “xử lý” Đông Pháp.
[3]. Bộ
Tổng tham mưu Lục quân nói chính sách của mình là: “Trong tình hình yên tĩnh
như vậy, dại gì mà muốn có động”. Phần “Ngày 3 tháng 10 năm 1942” của Nhật
ký chiến tranh... - tài liệu đã dẫn.
[4]. Lời
phát biểu của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Shighêmitsu trong Hội nghị liên tịch Đại
bản doanh và chính phủ ngày 24 tháng 1 năm 1944, lời phát biểu của Đại sứ tại
Đông Dương Yôshizawa trong buổi gặp gỡ với các cán bộ Bộ Lục quân ngày 29 tháng
1 năm 1944 (Phần hai của Nhật ký chiến tranh... tài liệu đã dẫn). Trong
buổi gặp gỡ này, Đại sứ Yôshizawa nói rằng: Sau khi lật đổ chính quyền Pháp ở
Đông Dương, Nhật Bản nên trao trả độc lập cho ba nước “Đông Kinh”, “An Nam” và
“Lào”: còn Campuchia cho làm nước bảo hộ và làm cho Nam Kỳ thành lãnh thổ của
đế quốc Nhật Bản.
[5]. Phần “Ngày
6 tháng 1 năm 1944”: Nhật ký
chiến tranh... Tài liệu đã dẫn.
[6]. Mặc
dù vậy, sau khi nhận quyết định ngày 14 tháng 9 năm 1944, Quân đoàn Nhật Bản ở
Đông Dương bắt tay vào việc chuẩn bị phát động lực lượng vũ trang của mình để
lật đổ chính quyền thực dân.
[7].
Hiệp định trung ương giữa Lục quân và Hải quân về việc giải quyết vấn đề Đông
Pháp và việc bảo vệ sau cuộc đảo chính.
[8].
Điện báo gửi từ trưởng văn phòng Đại sứ phủ tại Đông Dương Tsukamôtô tới Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Shighêmistu đề ngày 6 tháng 1 năm 1945 (tài liệu Bộ Ngoại
giao Nhật Bản).
[9]. Hồi
ký của Trung tướng Isuchihashi (tài liệu Bộ Quốc phòng). Trước đây quân đoàn
Nhật Bản đóng ở Đông Dương có dự án chính sách thống trị sau cuộc đảo chính
giống như dự án của Đại sứ phủ. Nên một số cơ quan quân đội Nhật Bản nuôi Ngô
Đình Diệm và những phần tử thân Nhật khác. Nhưng Tổng tư lệnh Isuchihashi, thấy
rằng vấn đề cấp bách nhất là đối phó quân Mỹ, nên bỏ dự án này.
|