Khi nàng công chúa…
Dylan Schoenfield, cô gái xinh đẹp, giàu có và nổi tiếng nhất trường trung học Castle Heights, nhưng đồng thời cũng là cô nàng phù phiếm, kiêu ngạo, ích kỷ và đỏng đảnh đến mức gần như chẳng ai chịu nổi,
… gặp chàng ếch
Josh Rosen, con mọt phim dường như chẳng có gì nổi bật trên mọi phương diện, chưa kể sức khỏe còn có vấn đề và cả đời chưa từng có lấy một người bạn gái.
Định mệnh đã nối kết họ với nhau bằng một bản hợp đồng “đôi bên cùng có lợi”. Nhưng, lẽ nào phải nhờ đến cây đũa thần trừng phạt thì nàng công chúa mới nhận ra bản chất của mình? Và phải chăng chỉ nụ hôn của tình yêu đích thực mới có thể biến chàng mọt phim bình thường thành hoàng tử quyến rũ?
***
Đôi nét về tác giả Robin Palmer

Robin Palmer tốt nghiệp đại học Boston chuyên ngành Truyền thông đại chúng năm 1990 trước khi tiến vào thế giới Hollywood. Cô đã nhanh chóng thể hiện được khả năng của mình và trở thành đại diện tác giả, nhà sản xuất và giám đốc điều hành mạng truyền hình tại hãng Truyền hình Lifetime. Robin Palmer luôn mơ ước được trở thành nhà văn, và cô đã thử sức trên rất nhiều lĩnh vực, từ viết kịch bản cho tới tiểu luận, tiểu thuyết và sách hướng dẫn trẻ mầm non. Hiện tại, cô sống ở New York.
Công chúa xấu tính (tên gốc: Geek Charming) đã được hãng Disney chuyển thể thành bộ phim cùng tên.
***
Lời khen tặng dành cho Công chúa xấu tính
“Sắc sảo và… hài hước.” School Library Journal
“Bạn sẽ nhận ra chính mình và nhớ lại quãng đời học sinh đã qua.” Camille Williams
“Một cuốn sách vô cùng ngọt ngào.” H. Hoffman
***
Trích Công chúa xấu tính
[...]
Chương 3: dylan
Thực tế Ngẫu nhiên số 210 mà bạn nên biết về tôi: trừ khi người ta đi mua sắm túi xách mà nhắc đến Fred Segal hay Kitson, còn không thì tôi chẳng thích thú gì với những chuyện bất ngờ. Thật ra, nói một cách ngược lại thì đúng hơn: tôi thích thói quen hơn. Ví dụ như, nếu mở tủ lạnh mà nhìn thấy một mớ sữa chua không béo chuối-dâu-chanh Weight Watchers ngổn ngang thay vì một hàng sữa chua va ni đẹp đẽ, gọn gàng (bữa sáng thường lệ của tôi từ hai năm trở lại đây), tôi sẽ bắt đầu cảm thấy có phần lo lắng.
Vậy nên bạn có thể hiểu được cảm giác của tôi khi trở về nhà vào lúc năm rưỡi chiều thứ Sáu - sau khi dạo một vòng ở Fred Segal để cân nhắc trang phục khả dĩ cho Lễ hội Mùa Thu tổ chức vào tháng Mười một (còn sáu tuần nữa, nhưng để bắt tay vào chuẩn bị thì chẳng bao giờ là quá sớm hết) - và xe của bố đã đậu ở vòng tròn lối vào gara trong ngôi nhà phong cách Tây Ban Nha của chúng tôi. Chuyện này không nằm trong những thói quen thường lệ của tôi. Bố tôi là một tín đồ công việc và không bao giờ rời khỏi công ty trước tám rưỡi, ngay cả trong ngày Giáng sinh. Một điều còn quái dị hơn nữa là đậu ngay phía sau chiếc Jaguar màu đen của bố tôi là một chiếc Volvo màu xanh cổ lỗ tàn tạ không những trông giống như hàng bao nhiêu năm chưa từng được ghé qua cửa hàng rửa xe mà lại còn có cả khẩu hiệu Neil Diamond đính bên trên. Phòng trường hợp bạn không biết Neil Diamond là ai - chẳng thể trách bạn được khi bạn thấy ông ấy là một lão già khú đế và là người nổi tiếng từ xa xưa, tận những năm bảy mươi - thì ông ấy chính là lão ca sĩ ngu ngốc bị ám ảnh bởi mớ xê quin và kim cương giả, cứ nhìn những bức ảnh ông ta trên đống đĩa CD của bố tôi thì biết.
Sau khi đậu chiếc BMW đỏ của mình phía sau chiếc Volvo, tôi bước về phía ngôi nhà. “Hola, José!” tôi reo lên. Ông ấy là người làm vườn của chúng tôi và đã kết hôn với Marta, quản gia của chúng tôi.
Ông ấy ngước mắt lên khỏi khóm hoa hồng đang được cắt tỉa. “Hola, tiểu thư Dylan,” ông ấy hét lên đáp trả. Nhà của chúng tôi nằm trên một mẫu đất - cũng được gọi là rộng mênh mông theo tiêu chuẩn L.A - vì vậy José là người rất bận rộn.
Tôi cảm thấy mình vô cùng may mắn vì được sống trong nhiều nền văn hóa đa dạng đang hiện hữu ở L.A. Sống giữa José và Marta, người gốc El Salvador; Kathy, thợ làm móng tay người Việt Nam và Zora, người phụ nữ Bulgari thường tẩy lông mày cho tôi, tôi đúng là một trong những người được sống trong môi trường văn hóa đa dạng nhất mà tôi biết.
“Bố ơi?” tôi kêu váng lên trong lúc giấu đống túi Fred Segal vào tủ để đồ ở tiền sảnh. Chắc hẳn tôi đã mắc phải căn bệnh không thể bước ra khỏi cửa hàng cửa hiệu mà không sắm ít ra là một cái áo sơ mi.
“Chúng ta đang ở trong phòng giải trí,” bố tôi đáp.
Tôi đoán nửa kia của “chúng ta” hẳn phải là một người nào đó hâm mộ Neil Diamond. Có thể là một trong những chiến hữu của bố tôi từ thời còn ở Tây Bắc, bây giờ đang làm việc cho tổ chức Hòa Bình Xanh hay một trong những tổ chức phiền phức nào đó kiểu cứ săn đuổi những con người vô tội đáng thương như tôi đây trong khi tất cả những gì chúng tôi muốn chỉ là mua một ít sữa chua đông lạnh ở Pinkberry. Mấy người đó lúc nào cũng lái những chiếc Volvo tàn tạ.
Khi bước vào phòng, tôi đứng sựng lại. Tôi ước gì đó là một người bạn của bố tôi. Nhưng không phải vậy - không phải ai khác mà chính là Chàng Mọt James hay Joe hay Josh hay bất cứ cái tên nào của cậu ta. Chính là người đã vớt cái túi của tôi ra khỏi đài phun nước tuần trước và tưởng rằng vì chuyện đó mà tôi phải nợ cậu ta đứa con đầu lòng của mình chắc. Tôi không hiểu nổi chuyện này - tôi đã nói rõ là tôi không hứng thú với việc thực hiện bộ phim ngu xuẩn của cậu ta. Ở chữ không ấy có gì mà cậu ta không hiểu được kia chứ? Về chuyện không để mọi việc xảy ra ấy.
Tôi nghĩ mình đến nôn ra mất. Không chỉ vì Chàng Mọt đang ở trong nhà tôi mà còn vì cậu ta và bố tôi đang ngồi trên chiếc trường kỷ bọc da lộn Thụy Điển màu đen xem bóng chày giữa đống thịt bò muối, sandwich thịt bò hun khói, dưa chua, sandwich khoai tây, bánh quy sô cô la kem của cửa hàng Nate ‘n Al’s, món khoái khẩu của tôi trước khi tôi nói lời tạm biệt với các loại thức ăn giàu carbohydrate vào năm học thứ nhất.
“Chào con yêu!” bố tôi nói trong khi miệng vẫn nhồm nhoàm sandwich khoai tây. Nếu không tính đến chuyện bố tôi thừa đến xấp xỉ mười hai kí lô cân nặng và cao hơn một vài phân thì ông đúng là bản sao của diễn viên Dustin Hoffman.
“Con chào bố,” tôi nói. Tôi cố gắng không đánh mắt sang những chiếc bánh quy trắng đen với lớp kem dày cộp. Theo tôi, ngoài các thông báo PSA trên truyền hình về tác hại của ma túy, người ta có lẽ nên làm gì đó về món bánh quy sô cô la kem vì khả năng gây nghiện của chúng còn mạnh hơn bất cứ loại ma túy nào. “Ừm, có ai muốn nói cho con biết ở đây đang xảy ra chuyện gì không?” tôi vừa hỏi vừa thả người xuống chiếc ghế bành bọc da Thụy Điển cùng bộ, nín thở để không ngửi thấy mùi bánh kem và đánh bạo đập một gói bimbim khoai tây chiên.
“Bố vừa kể cho Josh nghe về buổi trình diễn của Neil ở Hy Lạp hồi năm 1978 trong lúc bố và cậu ấy ăn vài món lặt vặt,” bố tôi trả lời.
Vài? Trên cái bàn cà phê bằng đá đó có đủ thức ăn cho cả một buổi lễ bar mitzvah nhỏ.
Khi tôi thở hắt ra, mùi ngọt của đường xộc vào mũi. Tôi vội xọc tay vào túi rồi nhét ba mẩu kẹo cao su vào miệng. “Con thấy rồi,” tôi nói. “Nhưng cậu ta đang làm gì ở đây?”
“Được rồi, theo như bố hiểu, có vẻ như hai con đã thỏa thuận với nhau về chuyện cho cậu ấy quay phim con để làm phim tài liệu và bây giờ con đang cố nuốt lời,” bố tôi nói bằng cái giọng Ta-Là-Ông-Vua-Bất-Động-Sản-L.A đáng sợ.
Tôi ngước mắt lên nhìn Chàng Mọt đang cắn một miếng dưa chua với vẻ ngây thơ vô cùng tận và ném cho cậu ta một cái nhìn khinh miệt tột độ thường vẫn được dành cho Amy Loubalu.
“Con không cố nuốt lời,” tôi nói. “Con đã nuốt lời. Ý con là, ngộ nhỡ cậu ta tìm cách mô tả con như một kẻ hư hỏng, bần tiện và đại loại thế thì sao? Ai mà chẳng biết con không phải người như vậy, nhưng cứ nhìn thẳng vào thực tế đi - đấy là vấn đề doanh thu. Cứ xem các chương trình truyền hình thực tế thì biết.”
“Tôi đã nói với cậu rồi mà,” Chàng Mọt vừa nói vừa móc ra cái ống thở ngu ngốc vốn là vật bất ly thân của cậu ta. “Tôi tuyệt đối không có ý định đó. Đợi tôi chút xíu nhé.” Cậu ta xịt thuốc vào trong miệng. “Bệnh hen suyễn,” cậu ta giải thích.
“Em trai ta cũng bị bệnh hen suyễn!” bố tôi thốt lên, cứ như thể bằng cách nào đó chuyện này đã biến họ thành những tâm hồn đồng điệu vậy.
“Thật ạ? Thú vị quá. Tất nhiên, cháu không định nói đến việc chú ấy mắc phải bệnh hen suyễn, mà chỉ là... đừng bận tâm ạ. Dù sao thì, như tôi đang nói đó.” Cậu ta cho tay vào túi và móc ra một mảnh giấy nhàu nhĩ rồi bắt đầu đọc. “Tôi chỉ cho rằng sẽ thật thú vị nếu nhìn những người nổi tiếng theo góc độ xã hội học. Một cái nhìn mang tính nhân loại học vào trật tự xã hội của những trường trung học thời hiện đại. Nếu đi ngược trở lại lịch sử điện ảnh, cậu sẽ thấy rằng qua hàng thập kỷ...”
“Thôi được rồi, vì rằng chiều nay tôi không uống nước tăng lực Red Bull nên đầu óc tôi có phần mù mờ và tôi thậm chí sẽ chẳng thèm giả vờ hiểu những gì cậu đang nói,” tôi đáp lại, quay người về phía bố mình, lúc này đang nhồm nhoàm chiếc bánh sandwich gan băm/thịt bò muối ba lớp. “Bố à, bố biết khi người ta nói hay viết những chuyện hèn hạ về mình thì mọi chuyện sẽ ra làm sao rồi đấy. Chẳng lẽ bố không nghĩ rằng con đang làm đúng sao?”
Bố tôi hớp một ngụm Soda kem Dr. Brown. “Không. Bố không nghĩ vậy,” bố tôi nói. “Nhất là khi tất cả những gì anh chàng này muốn là được đến trường điện ảnh USC. Con có biết rằng cậu ấy đã phải làm việc hai mươi giờ một tuần để giúp mẹ trả học phí tại trường của các con không?”
“Sao kia chứ, bố muốn con đi kiếm việc làm à?” tôi bật lại. Rồi đến cái gì nữa đây? Dành cả mùa hè đi tình nguyện ở châu Phi chắc?
“Ý bố không phải thế. Bố chỉ nói là Josh ý thức được giá trị của đồng tiền. Con biết không, khi bằng tuổi các con...”
“Con biết, con biết,” tôi cắt ngang. “Bố và ông bà cùng chú Marvin đã sống trong một căn hộ hai phòng ngủ ở Queens...”
“Marvin chính là người bị bệnh hen suyễn,” bố tôi giải thích với Chàng Mọt.
“... và không những phải đi giao báo buổi sáng mà sau giờ học bố còn phải đi làm thêm ở cửa hàng giày dép,” tôi tiếp tục. “Và bố còn phải đi bộ một dặm trong tuyết mới đến được chỗ đó. Và bố tự mình trang trải mọi chi phí suốt thời gian học ở trường City College.”
“Chính xác. Đó chính là kiểu vấn đề khiến cho bọn nhóc tì ở đồi Beverly các con mắc phải bệnh viêm loét đấy.”
“Thật ra, ngài Schoenfield, cháu sống ở Hollywood,” Chàng Mọt nói, giờ đã di chuyển tới chỗ một cái bánh quy kem sô cô la, ăn nó theo đúng cách tôi thường ăn ngày xưa - cắn một miếng ở phần sô cô la rồi đến một miếng ở phần vani, rồi lại sô cô la, cứ thế cứ thế. Vì dạ dày bắt đầu sôi lên sùng sục nên tôi lôi một mẩu kẹo gôm nữa cho vào miệng.
“Thế hả?” tôi hỏi. Lần duy nhất tôi và bạn bè đến Hollywood là để tham dự buổi bán hàng mẫu bộ sưu tập thời trang Billion Dollar Babes. Theo tôi, bất cứ địa điểm nào nằm ở phía đông của đại lộ La Cienega đều có thể được xếp vào dạng thiếu hoàn hảo. Tất nhiên, ngoại trừ đoạn đường thuộc phố 3 nối Orlando với Fairfax cùng tất cả những cửa hàng cửa hiệu dễ thương.
“Phải,” cậu ta đáp. “Ở đường Beachwood Canyon. Ngay dưới con phố đâm ra từ tấm bảng Hollywood.” Cậu ta nghịch nghịch cái ống thở. “Tôi nhận thấy nó là nguồn cảm hứng vô tận cho nghề nghiệp của mình, đặc biệt khi nó chính là địa điểm mà năm 1996 Doug Liman đã quay Swingers với sự tham gia của Vince Vaughn và John Favreau, một bộ phim mà xét trên nhiều cấp độ chính là ví dụ xuất sắc cho việc làm phim độc lập...”
Sao cậu ta có thể cho rằng tôi sẽ quan tâm đến một thứ vượt quá tầm hiểu hiết của mình như vậy chứ, ngay cả khi Vince Vaughn có là người hot đến tột độ đi nữa. “Thật tốt cho cậu,” tôi đáp lời. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay - đã quá sáu giờ, mà tôi đã định sẽ gặp Hannah và Lola ở Olympic Spa để tẩy da chết toàn thân (tiệm của người Hàn Quốc - tuy nhiên sẽ có nhiều điều hơn thế) lúc bảy giờ. “Nghe này, tôi không thích phá hỏng bữa tiệc này chút nào, nhưng hôm nay là tối thứ Sáu và tôi có kế hoạch rồi. Rất vui nếu được gặp lại cậu...”
“Josh.”
“Josh,” tôi nói, tặng cho cậu ta nụ cười rạng rỡ nhất mà tôi có thể nặn ra được. “Tôi dám chắc sẽ gặp cậu đâu đó ở trường thôi. Thậm chí từ giờ trở đi tôi còn chào hỏi cậu nữa ấy chứ.” Có lẽ cư xử một cách tử tế sẽ khiến cậu ta để cho tôi yên. “Chúc cuối tuần vui vẻ,” tôi vừa nói vừa bước khỏi phòng, dừng lại để vuốt phẳng tấm thảm của dân da đỏ Navajo mà bố tôi đã mua năm ngoái khi hai bố con đi trượt tuyết ở New Mexico. Thành thực mà nói, tôi không phải người hâm mộ lối trang trí của vùng Tây Nam, vốn là cách bố tôi tu sửa phòng giải trí sau khi một ông thầy bói mà bố gặp trên chiếc thang kéo trượt tuyết trong chuyến du lịch đó nói với ông rằng kiếp trước ông là người da đỏ. Nhưng vì tôi không làm việc, như đã nhắc đến ở trên, nên theo bố tôi, tôi không được phép đóng góp ý kiến gì trong vấn đề đó cả.
“Dylan!” tôi nghe tiếng bố gầm lên. Tiếng gầm gừ chẳng bao giờ là dấu hiệu tốt.
Tôi quay người và trao cho ông một nụ cười rạng rỡ. “Dạ?”
Bố tôi không cười đáp lại. “Con quay lại đây.”
Tôi quay người và bước tới bên chiếc đi văng, vòng tay quanh cổ bố mình. “Sao vậy bố?” tôi nói ngọt ngào hết mức, cố không trừng trừng nhìn Josh, lúc này đang săm soi một cọng rau mùi như thể cả đời chưa từng nhìn thấy nó lần nào.
“Josh và bố cho rằng để cho công bằng thì sẽ như thế này: tháng tới, Josh sẽ bắt đầu quay phim con và các bạn con mỗi tuần một ngày vào giờ ăn trưa ở trường, một buổi chiều sau khi tan trường và một buổi tối vào thứ Sáu hoặc thứ Bảy. Mặc dù không được can thiệp vào tác phẩm hoàn chỉnh nhưng con vẫn có quyền đưa ý kiến cho những thước phim thô, như vậy con sẽ không bị mô tả một cách bất công hay tâng bốc quá mức.”
Tôi thả tay khỏi cổ bố và đứng dậy. “Bố nghiêm túc đấy à?” tôi rít lên.
Tôi có thể thấy Josh đang co rúm cả người lại trong lúc ăn món rau mùi. Thật không tin nổi - bố tôi, người yêu thương tôi hơn tất thảy mọi thứ trên đời, người thường chén những ông chủ bất động sản tép riu cho bữa sáng - lại hoàn toàn bán rẻ tôi chỉ vì Chàng Mọt đã gợi cho ông nhớ lại thế nào là cuộc sống khi phải trưởng thành trong cảnh nghèo túng và nghe nhạc của một ca sĩ mặc áo liền quần nào đó.
“Như chuyện sống chết vậy,” bố đáp lại.
“Bố biết con không thích bố đùa về vấn đề này mà,” tôi nói.
“Bố biết, bố biết. Bố xin lỗi. Nhưng, phải, bố nghiêm túc,” bố vừa nói vừa nhấc mình khỏi ghế. “Nghiêm túc đến nỗi nếu bố phát hiện ra con không hợp tác, con sẽ không được phép đến buổi khiêu vũ mà con đã nhắc đến nữa.”
“Sao ạ? Nhưng con phải đi, con là Nữ Hoàng Lá mà!”
Tôi quay phắt về phía Josh đúng lúc cậu ta đang khịt khịt mũi.
“Có gì buồn cười hả?” tôi hỏi bằng giọng lạnh tanh.
Tiếng khịt mũi chuyển thành cơn ho.
“Tôi cho là không,” cậu ta trả lời khi dứt cơn ho. “Chỉ là, cậu biết đấy... nghe có vẻ buồn cười. Giống như một món đồ cậu mua ở Home Depot hay nơi nào đó đại loại thế.”
Tôi nhìn cậu ta chằm chằm.
“Hoặc không,” cậu ta nói thêm.
“Nữ Hoàng Lá là một truyền thống vô cùng quan trọng ở Castle Heights,” tôi giải thích. “Trong số mười Nữ Hoàng Lá gần đây nhất, chín người đã trở thành nữ hoàng dạ hội. Tất cả, ngoại trừ Adriana Castelli và nguyên nhân là khi đó cô ấy tình cờ đang trong quá trình hồi phục sức khỏe. Và đúng ngày hôm nay tôi vừa nhìn thấy một bộ váy tuyệt vời nhất. Nó có màu hồng nhạt với...”
“Thôi được rồi, nếu con không để Josh thực hiện bộ phim tài liệu của cậu ấy thì nơi duy nhất để con mặc bộ váy đó chính là trong ngôi nhà này đấy,” bố nói. “Vậy nên bố sẽ để bọn trẻ các con thảo luận chi tiết.” Bố dừng lại trước mặt Josh và chìa tay ra. “Rất vui đươc gặp cháu, Josh. Chúc cháu may mắn với dự án của mình. Chú rất ấn tượng trước nghị lực của cháu đấy.”
“Cám ơn chú Schoenfield,” Chàng Gà vừa bắt tay bố tôi vừa nói. “Cháu thật sự cảm kích vì chú đã đề nghị làm người tài trợ cho dự án và, chú biết đấy, trả tiền cho bộ phim và những thứ đại loại thế.”
“Bố, bố định trả tiền cho cái này sao?”
Bố tôi nhún vai. “Sao lại không chứ? Nó không phải đóng thuế mà. Gặp lại các con sau nhé.”
Ngay khi bố rời khỏi phòng, tôi ngồi phịch xuống đầu bên kia đi văng, làm Chàng Mọt càng rúc sâu hơn vào trong góc của mình, cứ như thể cậu ta sợ lây phải rận vậy.
Tôi điên tiết đến nỗi chỉ muốn hét lên cho thỏa. “Thật không tin nổi cậu lại dám đến hớt lẻo về tôi,” tôi nói. “Cậu là ai kia chứ?”
“Tôi đến để cố gắng thảo luận mọi chuyện với cậu,” cậu ta nói với vẻ phòng thủ, “nhưng cậu không có ở đây vậy nên chúng tôi bắt đầu nói chuyện, và trước khi tôi kịp nhận ra thì anh chàng ở cửa hàng Nate ‘n Al’s đã ở đây rồi.”
Tôi lắc đầu. “Tôi thật không chịu nổi những đứa trẻ phụ huynh.”
“Hử?”
“Trẻ phụ huynh - những đứa trẻ chuyên nịnh hót các bậc phụ huynh.”
Cậu ta nhún vai. “Tôi không nịnh hót họ - chỉ là bao giờ cũng vậy, họ có vẻ thật sự thích tôi. Thật ra, hồi năm thứ ba, khi tôi chơi thân với Toby Wasserman...”
Tôi giơ tay lên chặn cậu ta lại. “Được rồi, dừng lại đi. Nghe này, mặc dù thật sự thích chơi trò Đây là cuộc sống của bạn với cậu nhưng hiện tại tôi không có thời gian. Vậy nên ba ngày mỗi tuần trong một tháng...” Tôi bắt đầu đếm ngón tay. “Đó là...”
“Mười hai ngày,” cậu ta nói. “Không phải, đợi đã - thật ra vì tháng Mười là tháng đủ nên trên thực tế sẽ là mười bốn ngày, vì nó là tháng có năm tuần chứ không phải...”
Tôi lại giơ tay lên. “Thôi được rồi, lại dừng đi. Nếu chúng ta làm việc cùng nhau, mà tình hình có vẻ như phải thế rồi, cậu sẽ phải dừng cái món Wikipedia đó đi.”
“Tốt thôi,” cậu ta lẩm bẩm, với tay lấy một miếng bánh quy kem sô cô la.
“Tuy nhiên tôi thấy ấn tượng đấy,” tôi nói.
“Thật hả?” cậu ta hỏi vẻ ngạc nhiên, miệng vẫn nhai nhóp nhép.
Tôi đứng dậy đi tới chỗ cái ví để lấy thêm một mẩu kẹo gôm nữa. “Tôi muốn nói là, giả vờ thích Neil Diamond chỉ để tạo mối quan hệ với bố tôi? Khá là thiên tài đấy. Dù sao thì cậu phát hiện ra chuyện đó bằng cách nào thế?”
“Hử?”
“Sao cậu biết bố tôi thích Neil?” tôi vừa hỏi vừa nhét thêm hai mẩu kẹo nữa vào miệng.
“Tôi có biết đâu. Khi tôi nhấn chuông, bố cậu ra mở cửa và chú ấy nhìn thấy băng khẩu hiệu dán trên ô tô của tôi.”
“Phải rồi, nhưng làm sao cậu biết để mà dán cái băng khẩu hiệu đó?” Tay bịt mũi, tôi cầm chiếc khăn giấy nhặt phần bánh quy kem sô cô la lên ném vào sọt rác. Phải làm cái chuyện ngu xuẩn này đã đủ tệ hại với tôi lắm rồi - chắc chắn tôi sẽ không đời nào mạo hiểm để bị tăng cân. Tôi quay lại ngồi xuống đi văng.
“Cậu đang nói gì vậy?”
“Tôi muốn nói cậu không thật sự thích Neil Diamond.”
Cậu ta im lặng.
“Ôi Chúa ơi... cậu thích Neil Diamond thật. Liệu cậu có biết cậu là người duy nhất dưới năm mươi tuổi thừa nhận điều này không?”
Cậu ta nhún vai. “Nếu dành thời gian lắng nghe, cậu sẽ thấy các ca từ của ông ấy rất đáng ngạc nhiên. Gần như không thua kém gì Bob Dylan hay Neil Young. Bài ‘I am... I said’ thì sao? Thật sâu sắc.”
“Xin lỗi nhé,” tôi nói, “nhưng ‘Tôi đây, tôi nói/Chẳng với ai ở đó/Và chẳng ai nghe thấy/Dù là chiếc ghế sao?’ Ghế thì nghe thế nào được chứ? Nó chỉ là cái ghế thôi mà!”
“Ồ. Vậy ra cậu cũng biết lời bài hát của Neil à?” cậu ta ngạc nhiên hỏi.
“Tất nhiên tôi biết rồi,” tôi đáp lời. “Hồi tôi còn nhỏ, lần nào bố mẹ tôi chẳng bật nó trên xe mỗi khi chúng tôi trên đường du lịch.” Sau khi mẹ mất, bố không còn nghe Neil nữa vì ông nói nó gợi ông nhớ đến quá nhiều điều về mẹ, nhưng thật không may thiệt hại đã được gây ra rồi - toàn bộ ca từ của những bài như Cracklin’ Rosie, Song Sung Blue và Sweet Caroline đã ăn sâu bám rễ trong tâm trí tôi. Tôi dám chắc khi tiến hành các liệu pháp tâm lý ở độ tuổi hai mươi, tôi sẽ phải mất vài buổi cho việc nó đã gây tổn hại cho tôi như thế nào.
“Bình tĩnh đi nào. Tôi không nghĩ quá nhiều đến chuyện điểm số, và hiển nhiên là với ngân sách hạn hẹp thì chúng ta sẽ chẳng thể xoay được giấy phép sử dụng những bài hát của ông ấy,” cậu ta nói, “nhưng ông anh Jason của cậu bạn Steven của tôi quen biết anh họ của một người trong nhóm Super Diamond, và biết đâu chúng ta có thể khiến họ bán rẻ cho chúng ta một trong những bài hát của họ.”
Tôi nhìn cậu ta.
“Hoặc không,” cậu ta nói thêm. “Nghe này, Dylan, tôi biết cậu không muốn làm chuyện này, nhưng tôi nghĩ mình đã tìm ra một cách có lợi cho cậu.”
Tôi nhìn cậu ta bằng ánh mắt nghi ngờ. “Như thế nào?”
“Được rồi, tôi đã suy nghĩ về vấn đề đó, và nếu cậu muốn nộp bộ phim tài liệu cùng với đơn xin nhập học của cậu, tôi sẽ chẳng thấy có vấn đề gì hết. Miễn là công sức của tôi được ghi nhận đúng đắn.”
Tai tôi vểnh hết lên trước thông tin này. “Hử. Cậu nghĩ người ta sẽ cho phép tôi nộp cái đó thay cho bài tiểu luận à?”
“Có thể lắm chứ.”
Vấn đề khiến tôi phải hàng đêm thao thức - ngoài chuyện tôi sẽ mặc gì vào Lễ Hội Mùa Thu và tại sao Asher lại thích dành các buổi tối thứ Bảy ngồi xem những gã đàn ông trưởng thành đập nhau tại giải vô địch Ultimate Fighting hơn là ở cùng tôi - chính là bài tiểu luận đại học của mình. Có thể tôi có rất nhiều thứ - đặc biệt là cực nổi tiếng, quyến rũ và là biểu tượng thời trang của Castle Heights - nhưng cụm từ “học sinh giỏi” không bao giờ xuất hiện trong top ten các câu trả lời cho “Dylan Schoenfield là ai?” Trong khi Hannah sẽ nhập học tại bất-cứ-trường-nào-miễn-là-thuộc-hệ-thống-Ivy còn Lola sẽ đến một trong số những trường nghệ thuật ở miền Đông, nơi người ta chẳng tài nào phân biệt được sự khác nhau giữa nam và nữ. Tôi đã chấp nhận rằng mình sẽ tới một trường địa phương nào đó kiểu như UC Santa Cruz hay Santa Barbara, nơi Asher sẽ dành phần lớn thời gian để lướt sóng còn tôi sẽ chọn chuyên ngành Lịch sử Nghệ thuật, vì như vậy khi lớn lên tôi còn có chuyện để mà nói ở các bữa tiệc cocktail. Nhưng cho dù những trường đó không có gì khó khăn (tất cả những gì bạn cần là điểm GPA đạt 2,5 và một làn da rám nắng), bạn vẫn cần phải viết tiểu luận, một thứ vốn không được tôi xếp vào danh sách những việc thú vị để làm.
“Thôi được, xét thấy việc không tham dự Lễ Hội Mùa Thu không nằm trong lựa chọn, tôi đoán mình chẳng còn cách nào khác rồi.” Tôi thở dài. “Gặp tôi tại Ramp vào bữa trưa ngày thứ Hai và rồi cậu có thể bắt đầu. Nhưng nói cho cậu biết, tôi không quan tâm bố tôi nói gì - chỉ cần tôi thấy cậu đang cố gắng bôi xấu tôi là cắt đứt thỏa thuận. Hiểu chứ?”
“Hiểu,” cậu ta đáp lại, nhấm nháp phần bánh đen.
“Và đừng có tưởng cứ như thế này là đùng một cái chúng ta đã giống như, bạn bè, hay gì gì đó,” tôi nói. “Đây thuần túy chỉ là công việc. Ồ, và phòng khi cậu không biết, Asher và tôi vốn siêu nghiêm túc, nên nếu cậu tính chuyện lợi dụng bộ phim tài liệu này như một cách để, cậu biết đấy, cưa cẩm tôi hay gì gì đó, thì nó sẽ không có tác dụng đâu.”
“Đừng lo,” Chàng Mọt đáp. “Như cậu nói đấy, nó thuần túy chỉ là công việc. Nhưng ai mà biết được - có khi đây lại là bước khởi đầu cho một mối quan hệ hợp tác lâu dài hữu ích và chúng ta sẽ thành Woody và Jean Doumanian thì sao.”
“Hử?”
“Woody Allen và người đồng sản xuất của ông ấy,” cậu ta giải thích.
Woody Allen... cái tên nghe có vẻ quen quen. “Ông ta học ở trường chúng ta à?”
Nhìn Chàng Mọt cứ như thể sắp phun ra tất tật đống thức ăn ngon lành bổ dưỡng mà cậu ta vừa xơi xong. “Woody Allen chỉ là đạo diễn vĩ đại nhất thế kỷ hai mươi thôi.”
“Vậy giờ ông ta chết rồi à?” tôi hỏi.
“Không. Ông ấy vẫn sống. Chỉ có điều các bộ phim của ông ấy không còn xuất sắc như xưa thôi. Chúng khá hay, vì ông ấy là Woody mà, nhưng chẳng có phim nào giống với những tác phẩm kinh điển của ông ấy.”
“Ồ.”
“Annie Hall? Manhattan?”
Tôi nhún vai.
“Hannah and her Sisters?” cậu ta hỏi với vẻ không tin.
“Hannah chẳng có chị em gì cả. Cậu ấy có một ông anh, Warren. Anh ấy học ở Stanford.”
“Đó là tên một bộ phim của Woody,” cậu ta giải thích.
“Ồ,” tôi nhún vai. “Chưa xem bao giờ.”
Cậu ta trông lại có vẻ như muốn nôn đến nơi và rồi thở dài.
Ôi trời - ai đó đang nhìn cái thứ điện ảnh này với con mắt nghiêm túc quá đây. “Sao?” tôi hỏi.
“Không có gì,” cậu ta trả lời trong lúc đứng dậy và chìa tay ra. “Vậy chúng ta thỏa thuận rồi nhé?”
Tôi cũng chìa tay ra. “Tôi đoán vậy.”
Trong khi tiễn cậu ta đến chỗ cái mà cậu ta gọi là Neilmobile (xin chào? Bạn có thể trở nên tàn tạ hơn thứ đó không?) tôi cố gắng nhìn vào mặt tươi sáng của vấn đề: giúp đỡ Chàng Mọt hoàn thành giấc mơ vào trường điện ảnh USC của cậu ta hẳn sẽ cân bằng bất cứ nghiệp ác nào mà tôi có thể.
Mà tất nhiên là tôi chẳng hề phạm nghiệp ác nào rồi.
[...] |