Carmen chẳng hạn, đã vắng
bóng.
“Tớ thực sự không biết làm
sao bọn mình có thể làm việc này mà không có Carmen,” Tibby nói. Và như thông
lệ, nó mang máy quay cho hậu thế, nhưng chưa bật lên. Không ai chắc là hậu thế
bắt đầu từ khi nào, mà biết đâu nó đã bắt đầu rồi.
“Vậy có khi mình không nên
cố,” Bee nói. “Có lẽ mình nên đợi để làm cùng nhau.”
Lena
mang theo nến, nhưng chưa thắp lên. Tibby mang theo nhạc tập aerobic thập kỷ 80
dở tệ theo nghi lễ, nhưng nó cũng chưa bật lên. Bee đã mạnh dạn bày mấy bát
Gummi Worms và Cheetos ra, nhưng không có ai ăn.
“Thế thì đến bao giờ?” Tibby
hỏi. “Thực tình mà nói, tớ nghĩ bọn mình đã cố tụ họp lại từ hồi tháng Chín năm
ngoái đến giờ nhưng tớ nghĩ chả lần nào được cả.”
“Lễ Tạ ơn thì sao?” Lena hỏi.
“Có nhớ là tớ phải đi Cincinnati mừng lễ sinh
nhật một trăm tuổi của cụ cố Felicia không?” Tibby nói.
“Ừ nhỉ. Và cụ ấy bị đột
quỵ,” Bee nói.
“Đó là sau buổi tiệc.”
“Còn Carmen thì đi Florida cả Giáng sinh,” Lena
nói. “Còn hai cậu thì ở New York
qua Năm mới.”
“Được rồi, vậy cuối tuần hai
tuần nữa được không? Lúc đó Carmen về rồi, phải không nhỉ?”
“Ừa, nhưng tớ bắt đầu học từ
20 tháng Sáu.” Lena đan tay bó gối, bàn chân
to tướng để trần đặt trên sàn gỗ thông ẩm ướt. “Tớ không bỏ hôm đầu tiên vẽ mẫu
được, không thì tớ sẽ bị kẹt gí trong một góc hoặc phải nhìn xương bánh chè của
mẫu suốt một tháng.”
“Được rồi, vậy mùng 4 tháng
Bảy,” Tibby nói nghe khá hợp lý. “Không ai phải đi học hay làm gì vào ngày thứ
Sáu đó. Bọn mình có thể gặp lại nhau ở đây cả một kỳ cuối tuần dài.”
Bee cởi giày. “24 tháng Sáu
này tớ bay đi Istanbul
rồi.”
“Sớm thế á? Đi muộn hơn
không được sao?” Tibby hỏi.
Mặt Bridget tối sầm lại vì
tiếc rẻ. “Chương trình bắt cả bọn phải bay trên chuyến bay hợp đồng đấy. Nếu
không đi cùng thì sẽ phải bỏ thêm một ngàn đô, mà mình còn lại phải tự tìm
đường đến khu đó nữa.”
“Sao Carmen có thể bỏ lỡ
buổi hôm nay nhỉ?” Tibby hỏi.
Lena
hiểu ý bạn. Không đứa nào trong bọn nó được bỏ lỡ nghi lễ này, nhất là Carmen,
đối với nó buổi lễ có ý nghĩa vô cùng lớn lao.
Bee nhìn quanh. “Mà lỡ cái
gì cơ chứ?” nó hỏi, không cố tình thách thức mà chỉ muốn làm không khí bớt căng
thẳng đi. “Đâu phải là buổi ra quân đâu, đúng không?” Nó chỉ vào Cái quần đang
được gấp nằm ngoan ngoãn giữa bộ ba. “Ý mình là, không phải chính thức. Bọn
mình mặc nó suốt cả năm học rồi. Không giống những mùa hè trước, khi đây còn là
cả một màn khởi đầu khổng lồ nọ kia.”
Lena
không biết là mình cảm thấy dễ chịu hay khó chịu vì lời phát biểu này.
“Có khi đúng thế thật,”
Tibby nói. “Có khi mùa hè này chúng ta không cần một buổi ra quân.”
“Ít nhất thì tối nay bọn
mình cũng nên tìm ra chiều luân phiên,” Lena
nói. “Carmen sẽ phải chấp nhận làm theo thôi.”
“Sao bọn mình không giữ đúng
luân phiên như hiện giờ?” Bridget gợi ý, duỗi thẳng chân ra. “Chả có lý do gì
phải thay đổi chỉ bởi mùa hè.”
Lena cắn
lớp da quanh móng ngón cái và ngẫm ngợi thực tế này.
Ngày xưa mùa hè khác. Đó là
thời gian chúng rời khỏi nhà, chia tay, sống những cuộc đời tách biệt trong
suốt mười tuần lễ, và dựa vào Cái quần để nối kết chúng lại với nhau cho đến
khi tái hợp. Bây giờ mùa hè lúc nào cũng vậy. Chia xa không phải là ngoại lệ, Lena nhận ra, mà đã là quy luật.
Khi nào thì tất cả chúng ta
mới lại về nhà? Đó là điều nó muốn biết.
Nhưng khi suy nghĩ một cách
logic thì nó hiểu rằng: Không phải chỉ câu trả lời đã thay đổi, mà chính là câu
hỏi. Nhà bây giờ là gì? Và đâu được coi là hiện trạng? Nhà là một khoảng thời
gian và khoảng thời gian đó đã qua rồi.
Không đứa nào ăn Gummi Worms
cả. Lena cảm thấy mình nên ăn một cái kẹo nếu
không thì nó sẽ khóc mất. “Vậy là bọn mình cứ giữ nguyên luân phiên cũ,” nó uể
oải lặp lại. “Tớ nghĩ mình là người tiếp theo.”
“Tớ viết lại rồi,” Tibby
nói.
“Okay.”
“Ừa.”
Lena
nhìn đồng hồ. “Vậy bọn mình về à?”
“Chắc thế,” Tibby nói.
“Các cậu có muốn tạt vào
Tastee Diner trên đường về không?” Bridget hỏi.
“Ừa,” Tibby nói, tập trung
các hiệu ứng của một nghi lễ đã không diễn ra. “Có khi sau đó chúng mình đi xem
phim suất muộn đi. Tối nay tớ không chịu được bố mẹ tớ đâu.”
“Ngày mai các cậu đi lúc mấy
giờ?” Bee hỏi.
“Tớ nghĩ tàu của bọn mình đi
lúc mười giờ,” Tibby nói. Lena và Tibby sẽ đi cùng một chuyến tàu: Tibby đi New
York học lớp làm phim và bắt đầu làm việc ở Movieworld, còn Lena thì thẳng tiến
tới Providence để đổi phòng ký túc trong mùa hè. Bee sẽ ở nhà rồi mới bay sang
Thổ Nhĩ Kỳ.
Lena nhận ra mình cũng chưa
muốn về nhà. Nó cầm Cái quần lên và khẽ nâng niu một lúc. Nó có một cảm giác
không thể gọi tên, nhưng là cảm giác mà nó biết trước đây mình chưa bao giờ có
với Cái quần. Nó đã cảm thấy biết ơn, ngưỡng mộ, tin tưởng. Cảm giác trong nó bây
giờ vẫn bao hàm tất cả những thứ đó, nhưng tối nay chúng trộn lẫn với một chút
mùi vị của sự tuyệt vọng.
Nếu bọn mình không có nó,
mình không biết bọn mình sẽ làm gì, nó nghĩ thế khi Bee kéo cánh
cửa hiệu Gilda đóng lại sau lưng chúng và cả bọn chậm rãi đi xuống cầu thang
tối mò.
***
“Carmen,
đẹp lắm ấy. Mẹ rất nóng lòng muốn con thấy nó.”
Carmen
gật đầu vào ống nghe. Nghe tiếng mẹ nó sung sướng đến nỗi nó cũng phải sung
sướng theo. Làm sao nó có thể không sung sướng được?
“Mẹ định khi nào chuyển
nhà?” nó hỏi, cố giữ giọng thật vui vẻ.
“Ừ, mình cần làm một số việc
đã. Trát vữa, sơn, làm lại sàn. Cả đường nước với điện cũng phải sửa. Mẹ muốn
mọi việc căn bản xong xuôi trước khi chuyển đến ở. Mẹ hy vọng chắc khoảng cuối
tháng Tám.”
“Ô. Sớm thế ạ.”
“Nena, có những năm
phòng ngủ. Thật không thể tin nổi nhỉ? Có cả một cái sân sau rất đẹp cho Ryan
chạy nhảy.”
Carmen nghĩ đến thằng em
trai bé tin hin của mình. Nó bây giờ còn chưa biết đi, nói gì đến chạy. Nó sẽ
lớn lên với một cuộc sống mới khác Carmen làm sao.
“Vậy là không căn hộ căn
hiếc gì nữa nhỉ?”
“Không. Với hai mẹ con mình
thì một căn hộ là ổn, nhưng chả phải mình vẫn muốn có một cái nhà ư? Chẳng phải
con vẫn luôn bảo là con muốn thế còn gì?”
Nó cũng luôn muốn có em và
muốn mẹ nó không phải cô độc. Không phải lúc nào cũng dễ dàng có được cái mình
muốn.
“Con sẽ phải dọn đồ trong
phòng con,” Carmen nói.
“Ở nhà mới con sẽ có phòng
to hơn,” mẹ nó vội nói.
Phải, đúng thế. Nhưng chả
phải hơi muộn rồi sao? Việc có một căn nhà có sân và phòng lớn hơn ấy? Quá muộn
cho việc làm lại tuổi thơ rồi. Nó đã đi qua tuổi thơ, và cái thời ấy đã diễn ra
trong căn phòng nhỏ của căn hộ đó. Thật vừa buồn vừa lạ lẫm khi đánh mất tuổi
thơ và quá muộn để thay thế quãng thời gian ấy.
Chuyện đó sẽ bỏ nó lại nơi
nào? Cuộc sống cũ không còn, cuộc sống mới thì chưa đến hẳn. Lưng chừng, trôi
nổi, không đâu cả. Mà thế lại có vẻ quá vừa vặn, theo một cách nào đó.
“Hôm qua Lena ghé thăm và
gặp Ryan. Con bé mang cho nó một cái đĩa bay Frisbee,” mẹ nó kể chuyện vẻ hơi
buồn bã. “Giá mà con ở nhà.”
“Vâng. Nhưng ở đây con có
bao là việc.”
“Mẹ biết, nena.”
Sau khi nó gác máy, điện
thoại lại réo.
“Carmen, cậu đang ở đâu?”
Tiếng Julia Wyman lộ vẻ khó
chịu. Carmen liếc đồng hồ sau lưng.
“Chúng mình nhẽ ra phải diễn
tập... ngay bây giờ!”
“Tớ ra đây,” Carmen nói, vừa
đi tất vừa kẹp điện thoại ở vai. “Tớ đến ngay.”
Nó lao vụt ra khỏi ký túc
đến nhà hát. Trên đường đi nó mới nhớ ra là tóc mình bết bẩn và nó đã định thay
quần, vì cái quần đang mặc làm nó cảm thấy mình cực kỳ béo. Nhưng có quan trọng
không? Chả ai để mắt tới nó cả.
Julia đang đợi ở hậu trường.
“Cậu giúp tớ cái này được không?” Sắm một vai diễn trong vở kịch, Julia vận một
cái váy vải tuýt dài, bị rộng quá ở phần eo.
Carmen cúi xuống cài kẹp
ghim lại. “Thế này được chưa?” nó hỏi, ghim cạp váy ra đằng sau.
“Ổn rồi. Cám ơn cậu. Trông
được không?”
Julia ăn vận trông thật ngon
lành. Julia trông ngon lành khi mặc hầu hết mọi thứ, và nó không cần Carmen bảo
cho mình điều đó. Nhưng dẫu vậy Carmen vẫn nói. Lạ kỳ thế nào đó, trong hai
đứa, nhiệm vụ của Julia là trông thật ngon lành. Còn nhiệm vụ của Carmen là ca
ngợi cô bạn vì điều đó.
“Tớ nghĩ Roland đang đợi cậu
trên sân khấu.”
Carmen bước lên sân khấu,
nhưng Roland không có vẻ gì là đang đợi nó. Anh ta không có phản ứng gì khi
nhìn thấy nó. Những ngày này nó cảm thấy mình tồn tại chả khác gì một con ma -
không ai nhận ra nó, nhưng không khí đột nhiên trở nên lạnh lẽo. Carmen nheo
mắt và cố làm cho mình thật nhỏ bé. Nó không thích đứng trên sân khấu khi đèn
bật sáng. “Anh có cần gì không?” nó hỏi Roland.
“Ồ có.” Anh ta đang cố nhớ
ra. “Cô sửa cái màn cửa ở phòng khách được không? Nó bị rơi mất.”
“Vâng,” nó đáp nhanh gọn, tự
hỏi mình có nên cảm thấy tội lỗi không. Chẳng phải nó chính là người treo cái
màn lên lần cuối đấy ư?
Nó đặt thang, trèo lên ba
nấc, và gí khẩu súng bắn đinh vào bức tường gỗ dán. Nhà cửa trên sân khấu luôn
kỳ lạ ở chỗ chúng chỉ để gây ấn tượng, tạo ra để được nhìn từ những góc nhất
định chứ không phải để tồn tại lâu dài. Nó tồn tại trong thời gian và không
gian không phải với tư cách một đồ vật, mà là một thủ thuật.
Nó thích tiếng phập khi
đinh găm vào tường. Đó là một trong những thứ nó học ở trường đại học: cách sử
dụng một cái súng bắn đinh. Bố nó đã phải trả rất nhiều tiền cho việc đó.
Nó cũng học những thứ khác
nữa. Làm sao tăng tám cân bằng cách ăn đồ trong căng tin và sô cô la vào buổi
đêm khi thấy cô đơn. Làm sao để tàng hình trước mặt bọn con trai. Làm sao không
phải dậy đi học lớp Tâm lý học lúc chín giờ. Làm sao ngày nào cũng có thể mặc
áo thụng thể thao bởi vì cảm thấy ngượng ngùng vì chính cơ thể mình. Làm sao để
lảng tránh những người ta yêu nhất trần đời. Làm sao để vô hình với hầu hết mọi
người, kể cả chính mình.
Quen biết Julia với nó là
một điều may mắn. Carmen rất hên, nó biết. Vì Julia là một trong những đứa nổi
bật nhất khu học xá. Chúng bù trừ cho nhau. Không có Julia ở khu học xá đại học
Williams, Carmen thầm nghi ngờ là có khi nó sẽ biến mất hoàn toàn.
To: Carmabelle@hsp.xx.com
From:
Beezy3@gomail.net
Subject:
Carmen-em-Gấu
Bọn
tớ đang gặp chút xáo trộn mang tên Carmen.
Tớ
biết cậu đang nghỉ đông và tớ, trên hết, hiểu như thế là thế nào.
Nhưng
Carma à, tháng Sáu rồi. Đã đến lúc ra ngoài và vui vầy cùng những người bạn yêu
mến cậu.
Bọn
tớ cố đến cửa hiệu Gilda, nhưng không có cậu bọn tớ không thể tiếp tục được.
Không
thể.
Bee vo ve
Là một đứa con gái có bạn
trai thật là khác.
Bridget ngẫm nghĩ khi bước
trên phố Edgemere lúc từ nhà Lena về nhà nó. Nó đã nghĩ đến chuyện này một lúc
trước đó, khi một anh chàng nó thoáng quen biết hồi học cấp ba thò đầu ra cửa ô
tô và hét “Êu, cô em xinh đẹp!” và ném cho nó một nụ hôn gió.
Nếu là lúc trước thể nào nó
cũng hét đáp trả rồi. Có khi nó còn hôn gió lại. Hoặc là giơ ngón giữa lên, nói
chung là tùy tâm trạng. Nhưng giờ đây khi nó là đứa con gái có bạn trai rồi thì
mọi chuyện dường như đã khác.
Cả năm nay nó đã phải tập
làm quen với điều đó. Nhất là khi ta chỉ gặp bạn trai một hay hai lần mỗi tháng
thì chuyện lại càng phức tạp - khi anh đi học ở New York còn ta thì học ở
Providence, Rhode Island. Chuyện có bạn trai chỉ còn mang tính lý thuyết. Với
mọi anh chàng ngồi trong xe hét ra, với mọi anh chàng ta đi ngang qua trên
đường tới lớp Tâm lý học cho sinh viên năm nhất có ý tán tỉnh ta, ta nghĩ, Họ
không nhận ra là mình đã có bạn trai.
Mỗi lần nó nhìn thấy khuôn
mặt điển trai của Eric, mỗi lần anh xuất hiện ở cửa phòng ký túc của nó hay đến
gặp nó ở Cửa khẩu An Ninh của New York, tất cả đều quay lại. Cách anh hôn nó.
Cách anh mặc quần, cách anh thức suốt đêm với nó giúp nó chuẩn bị cho bài thi
tiếng Tây Ban Nha giữa kỳ.
Nhưng mọi chuyện lại trở nên
lý thuyết khi Eric nói với nó chuyện anh đi Mexico. Anh đã được nhận vào làm
trợ lý huấn luyện viên ở trại bóng đá hồi trước của họ ở Baja.
“Tan lớp là anh đi,” anh nói
với nó trên điện thoại hồi tháng Tư.
Trong câu anh nói không hề
có chút lúng túng, ngần ngại hay nghi ngờ. Không có gì dành cho nó cả.
Nó siết ống nghe chặt hơn,
nhưng không muốn để lộ ra những cảm xúc đang xáo động. Nó không giỏi đối phó
chuyện bị bỏ rơi lại một mình. “Khi nào anh về?” nó hỏi.
“Cuối tháng Chín. Anh sẽ ở
thêm một tháng với ông bà ở Mulegé. Bà anh đã bắt đầu nấu nướng các món rồi.”
Nụ cười của anh nhẹ nhàng và ngọt ngào. Anh làm như thể nó cũng sẽ vui vẻ hệt
như anh vậy. Anh không dò được bóng đen trong nó.
Đôi lúc khi gác điện thoại
ta cảm thấy tim mình bầm dập. Lúc này đây lòng nó đau và sau này sẽ còn đau
nhiều nữa. Cuộc nói chuyện không hề dễ chịu và ta không muốn tiếp tục nhưng mà
kết thúc nó thì ta cũng không thể chịu nổi. Bridget muốn ném cái điện thoại và
lao cả người mình nữa, vào tường.
Nó đã nghĩ kế hoạch hè này
của nó và Eric kiểu gì cũng là hai đứa sẽ ở bên nhau. Nó nghĩ có bạn trai nghĩa
là ta sẽ xây dựng kế hoạch tương lai cùng nhau. Anh chắc chắn về điều đó đến độ
ra đi dễ dàng như vậy, hay là anh quá thờ ơ?
Nó chạy một đoạn đường dài
và tự khuyên nhủ bản thân trấn tĩnh lại. Bọn nó có phải là vợ chồng hay gì đâu.
Nó không nên cảm thấy bị tổn thương vì chuyện đó. Nó biết chuyện này chả có gì
là cá nhân cả. Làm trợ lý chỉ huy trại hè là một công việc trời ban - tiền
lương thì khá và anh sẽ được ở cạnh gia đình xa xôi của mình.
Thực ra là nó không cảm thấy
bị tổn thương, nhưng những ngày sau khi anh thông báo với nó, trong nó nảy sinh
từng cơn năng lượng khiến nó phải lao về phía trước. Nó không muốn ở nhà quanh
quẩn rồi nhớ nhung anh. Nếu không bị bất ngờ, không bị thất vọng đau đớn vì ảo
tưởng, có lẽ nó đã không đăng ký tham gia chuyến khảo cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ nhanh đến
vậy.
Eric không thể mong chờ
chuyện nó ngồi một chỗ đợi anh. Việc đó nó không làm được. Nó có thể coi là
mình có bạn trai trong bao lâu khi mà anh bạn trai đó định đi xa từ tháng Năm
cho đến tận hết tháng Chín? Bọn nó có thể được coi là một đôi trong bao lâu? Nó
không phải là một loại bạn-gái-trên-lý-thuyết.
Nó thực sự bắt đầu suy nghĩ
về những điều này sau cuộc nói chuyện về chuyến đi Mexico. Sau đó dường như với
mỗi anh chàng nó thấy trên đường đi học, nó có cảm giác việc mình có bạn trai
chỉ là do bắt buộc chứ không phải tự nguyện.
***
Tibby liếc nhìn đồng hồ trên
máy tính công. Còn bốn phút nữa là hết ca và còn ít nhất mười hai khách đang
xếp hàng.
Nó quét một chồng sáu đĩa
phim cho một đứa con gái sắp tuổi dậy thì đánh mắt nền màu bạc có ánh nhũ lấp
lánh và đeo một sợi dây cổ có vẻ quá chặt. Mắt con bé này bị lồi hay là Tibby
tưởng tượng nhỉ?
“Em định xem hết đống này
á?” Tibby lơ đãng hỏi. Hôm đó là thứ Sáu. Nếu trả vào thứ Hai thì sẽ bị tính
tiền quá hạn. Miếng kẹo gôm con bé đang nhai có mùi dưa hấu vừa hắc vừa giả rõ
ràng. Khi con bé nuốt, Tibby nghĩ đến những con bồ nông của ngư dân, trên cổ
đeo vòng để không nuốt được những thứ chúng bắt được.
“Em có tiệc ngủ tại nhà. Có
đến bảy đứa liền. Ý em là, nếu Callie đến được. Nếu nó không đến thì có khi em
không nên thuê cái phim này, vì mọi người đều ghét phim đó.”
Bọn mình có như thế không
nhỉ? Tibby tự hỏi khi đứa con gái kia tiếp tục miêu tả yêu cầu phim
cụ thể của từng đứa bạn nó.
Giờ thì ca của nó đã quá giờ
được hơn hai phút. Tibby tự nguyền rủa mình vì đã khơi chuyện với con bé kia.
Nó luôn quên mất cái sự thực khó chịu của việc đặt câu hỏi: Mọi người thường có
xu hướng đáp lời.
Nó vẫn còn phải phục vụ mười
một khách hàng nữa thì mới đóng quầy được, và từ phút này trở đi nó không được
trả tiền. “Quầy này sắp đóng rồi,” nó nói với người số mười hai trước khi anh
ta kịp đứng xếp vào hàng của nó.
Khách hàng tiếp theo là một
anh chàng có râu dê mặc áo gió ra ngoài áo đồng phục của người gác cửa. Khi áo
mở ra, Tibby nhìn thấy tên anh ta là Carl. Nó muốn bảo anh ta là phim anh thuê
cũng được, nhưng kết cục thì dở ẹc còn phần tiếp theo là một sự xúc phạm với
não bộ, nhưng nó buộc mình chỉ nghĩ chứ không nói ra. Đây sẽ là quy tắc của nó.
Làm thế chả khác gì tự nhận là mình thích nói hơn nghe.
Nó đóng quầy lại, chào tạm
biệt đồng nghiệp, và bước dọc phố Broadway, rẽ sang phố Bleecker rồi rẽ vào
cổng ký túc. Công việc của nó tệ ở chỗ lương gần như ở mức tối thiểu. Còn điểm
tốt là chỗ làm chỉ cách nơi ở có ba tòa nhà.
Tiền sảnh ký túc lạnh lẽo và
trống không chỉ có mỗi chú bảo vệ ngồi ở bàn. Vào mùa hè, ở đây hoàn toàn đổi
khác. Không có tiếng nói chuyện liên hồi, không có bản giao hưởng nhạc chuông
điện thoại. Một tháng trước, bảng thông tin lớn phải dán đầy các mẩu thông báo.
Giờ thì trống trơ ra chả có gì.
Trong năm học, đi thang máy
là chuyện rất mệt mỏi về mặt xã hội. Mất quá nhiều thời gian để nhìn ngó và
khen ngợi và phán xét. Giữa một không gian đông đúc thông thường, nó cảm thấy
có nhu cầu phải là một thứ gì đó với mỗi người đi cùng thang máy với mình, ngay
cả với những người nó không biết tên. Giờ đây, khi thang máy trống không, nó
thấy mình như hòa làm một với cái tường thang máy giả vân gỗ.
Tối nay hành lang sẽ vắng
lặng. Chương trình học hè sau mùng 4 tháng Bảy mới bắt đầu. Mà kể cả lúc đó thì
cũng toàn là những người mới, tạm bợ, không phải bạn nó, và không phải là loại
nó phải để tâm khi ở trong thang máy. Đến giữa tháng Tám là họ lại đi hết.
Đi học đại học là một chuyện
rất kỳ lạ. Ta cảm giác như lẽ ra mình sẽ tìm thấy cuộc đời của mình ở đó. Với
mỗi người ta gặp, ta lại nghĩ, Bạn có ý nghĩa gì với tôi không? Rồi chúng ta
có bước vào đời nhau không? Nó đã kết giao được với vài người bạn đích thực
ở cùng tầng và trong lớp học làm phim, nhưng hầu hết những người nó gặp nó đều
ngờ ngợ rằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Như mấy đứa con gái trong đội bơi hay
sơn mặt màu tím để thể hiện tinh thần nhà trường, hay cái anh chàng có đám lông
tơ trên mặt trông buồn cười mặc chiếc áo phông Warhammer.
Nhưng rồi, một giọng nói mà
gần đây nó nghĩ là Siêu-Tibby (cái bản thể làm những thứ đúng đắn, không bao
giờ vội vã hay cáu gắt của chính nó) nói chêm vào, ai mà có thể đoán nổi vào
cái ngày đầu tiên ở 7-Eleven rằng Brian sẽ trở thành một người quan trọng chứ?
Trong bốn năm kể từ ngày nó
gặp Brian lần đầu tiên, rất nhiều chuyện đã đổi thay. Mặc dù Brian khăng khăng
là cậu yêu nó ngay từ lần đầu gặp nó, nó vẫn nghĩ cậu là thằng đần suốt bao
nhiêu năm. Nó đã sai. Nó vẫn thường sai. Bây giờ nó thường có cảm giác rạo rực
mỗi khi nghĩ đến chuyện ở gần cậu. Đã chín tháng kể từ lúc... gì nhỉ? Nó ghét
cái từ cặp kè. Chín tháng kể từ lúc bọn nó mặc đồ lót bơi mấy tiếng đồng
hồ liền trong bể bơi công cộng rồi hôn nhau nồng nàn và siết chặt lấy nhau cho
đến khi ngón tay ngón chân nhăn nhúm còn môi thì tím tái cả lại.
Bọn nó vẫn chưa ngủ với
nhau. Chưa chính thức, mặc cho Brian có nằn nì. Nhưng kể từ cái đêm tháng Tám
đó, nó cảm thấy như thể cơ thể mình đã thuộc về Brian, và cơ thể cậu hoàn toàn
thuộc về nó. Kể từ cái đêm trong bể bơi, cái cách bọn nó yêu nhau đã thay đổi.
Trước đó bọn nó hiện diện theo cách riêng. Sau đó bọn nó hiện diện cùng nhau.
Trước đêm đó, cậu chỉ cọ mắt cá chân của cậu vào mắt cá chân nó dưới bàn ăn là
nó đỏ mặt, luống cuống, đổ mồ hôi đầy áo. Sau đêm đó bọn nó lúc nào cũng chạm
vào nhau. Bọn nó nằm sát cạnh nhau đọc sách trên giường đôi mà vẫn tập trung
đọc. Chậc, ừ thì tập trung được chút đỉnh.
Tối nay chỗ này sẽ thật yên
tĩnh. Ở chừng mực nào đó nó thấy nhớ Bernie, cô này vẫn tập hát opera từ chín
đến mười giờ, và Deirdre, bạn này hay nấu nướng tử tế trong bếp chung. Nhưng
được ở một mình thật dễ chịu. Nó sẽ viết mail cho bạn bè, cạo lông nách và lông
chân trước khi Brian đến vào ngày mai. Có khi nó sẽ gọi món mì xào ở quán gần
đó. Nó sẽ tới mang về để không phải trả tiền boa cho người đưa đồ ăn. Nó ghét
phải bần tiện, nhưng nó không thể hoang phí thêm năm đô được.
Nó tra chìa vào cái ổ khóa
lỏng lẻo. Cái ổ này vớ vẩn đến độ nó ngờ rằng có cho bất kỳ cái chìa khóa nào
trong ký túc này vào thì nó cũng sẽ bật ra. Có lẽ bất kỳ cái khóa nào trên thế
giới. Thật là một cái khóa nhỏ phóng đãng.
Nó đẩy cửa mở và ngay lập
tức cảm thấy sự dễ chịu thân thuộc khi vào căn phòng đơn của mình. Ai quan tâm
nếu nó chỉ rộng hai nhân ba mét vuông chứ? Ai quan tâm nếu nó chỉ bằng cái tủ
đựng quần áo chứ không phải là một cái phòng thật? Phòng này là của nó. Không
giống như ở nhà, đồ đạc nó bỏ chỗ nào là ở nguyên chỗ đó.
Đầu tiên nó lia mắt qua cái
đèn nhấp nháy dưới nút power trên máy tính của nó. Tiếp đến là đến cái đèn xanh
lá của cái sạc pin máy quay báo hiệu đã sạc đầy. Kế đó là đôi mắt sáng lấp lánh
của một cậu bé to con, tóc nâu mười chín tuổi đang ngồi trên giường nó.
Nó lảo đảo. Bụng, chân,
sườn, não. Tim đập thình thịch.
“Brian!”
“Êu,” cậu khẽ nói. Nó biết
là cậu không định hù nó.
Nó thả túi xuống và chạy về
phía cậu, ngay lập tức nhào vào vòng tay nồng nhiệt của cậu.
“Tớ tưởng mai cậu mới đến.”
“Đợi năm ngày nữa thì tớ
không chịu nổi,” cậu nói, mặt ép vào tai nó.
Cảm giác khi cậu ở ngay gần
mình mới tuyệt làm sao. Nó thích cái cảm giác này. Nó sẽ không bao giờ quen
được với chuyện đó. Cảm giác đó quá tuyệt vời. Tuyệt vời đến bất công. Nó không
thể thoát khỏi suy nghĩ rằng mọi thứ đều đã cân bằng lại. Ta phải trả giá cho
những gì ta nhận được. Ở phạm trù hạnh phúc, chuyện này luôn giống như mình
đang tiêu xài hoang phí.
Hầu hết con trai đều nói là
mai gọi thì phải đến thứ Bảy tuần sau mới gọi hoặc có khi chả gọi luôn. Hầu hết
con trai đều bảo là tám giờ có mặt thì đến chín giờ mười lăm mới tới. Bọn nó
khiến ta bồn chồn, vừa mong muốn vừa ao ước, và làm ta khó chịu từng giờ từng
phút. Brian không phải vậy. Brian hứa đến vào thứ Bảy nhưng lại đến vào thứ
Sáu.
“Giờ tớ hạnh phúc lắm,” cậu
nói vào cổ nó.
Nó nhìn xuống một bên mặt
cậu, nhìn vào cẳng tay rắn chắc của cậu. Cậu rất điển trai, vậy mà cậu coi như
không. Vẻ bề ngoài không phải là thứ khiến nó yêu cậu, nhưng để ý đến chuyện đó
thì có gì sai trái không?
Cậu đẩy nó xuống giường. Nó
lấy ngón chân ẩy giày ra. Cậu kéo áo nó lên và gối đầu lên bụng nó, quàng tay
ôm eo nó, đầu gối gập lại sát tường. Nếu căn phòng này là nhỏ với nó, thì nó
gần như không chứa nổi Brian khi cậu duỗi thẳng người ra. Thỉnh thoảng cậu lại
va vào tường. Tối nay nó mừng vì không phải cảm thấy tội lỗi với anh chàng ở
phòng 11-C.
Chuyện này cứ như thể là
phép màu vậy. Căn phòng riêng của bọn nó. Không phải trốn tránh, không phải nói
dối, không phải chạy trốn. Không có bậc phụ huynh nào để ta phải căn ke thời
gian. Không có giờ giới nghiêm phải về nhà để mà tuân thủ.
Thời gian như thể kéo dài
ra. Bọn nó sẽ ăn những gì bọn nó thích cho bữa tối - hay ít nhất, thứ mà bọn nó
đủ tiền mua. Nó nhớ lại cái đêm bọn nó ăn bữa tối mà mỗi đứa chỉ có hai thanh
Snicker còn tráng miệng là kem. Bọn nó sẽ ngủ cùng nhau, tay cậu đặt lên ngực
nó hay hông nó, và thức dậy cùng nhau dưới ánh mặt trời chiếu vào qua khung cửa
sổ hướng Đông của căn phòng. Thật tuyệt làm sao. Quá tuyệt. Làm thế nào nó lại
được hưởng chuyện này nhỉ?
“Tớ yêu cậu,” cậu thì thầm,
tay rướn lên bên dưới áo nó. Cậu không chờ thời điểm đó, cái khoảng trống lúc
nó sẽ trả lời cậu. Tay cậu đã nằm dưới vai nó, cậu cúi người xuống hôn nó. Cậu
không cần phải nghe nó đáp lại là nó cũng yêu cậu.
Nó thường nghĩ rằng - thực
ra, đó là một niềm tin chưa kiểm chứng thì đúng hơn - ta yêu người khác bằng
kiểu tình yêu giống như múa trước gương. Người kia yêu ta như thế nào thì ta
đáp lại đúng như vậy.
Brian không như thế. Cậu yêu
nồng nhiệt và không cần đáp trả. Chuyện đó khiến nó sợ hãi, nhưng đó chính là thứ
làm cậu khác biệt, như thể cậu nói được tiếng Trung hay có thể nhảy lên cao cho
thẳng bóng vào rổ vậy.
Nó cho tay vào trong áo
phông của cậu, sờ cái lưng ấm áp, những cái xương đáng yêu của cậu. “Tớ yêu
cậu,” nó nói. Cậu không đòi hỏi được nghe những tiếng đó, nhưng nó đã trao cho
cậu.
***
Có quá nhiều thứ bạn cho là
đương nhiên. Quá nhiều thứ bạn hầu như không để mắt tới cho đến khi chúng biến
mất. Trong trường hợp của Carmen, một trong những thứ đó là căn cước của nó.
Nó đã từng có một căn cước,
nó nghĩ khi cất món phục trang cuối cùng vào trong rạp hát trống không và tối
đen.
Nó đã từng là con một của
một bà mẹ đơn thân. Nó đã từng là một phần tư của một bộ tứ bất khả chia tách
khét tiếng. Nó đã từng là một sinh viên giỏi toán kiệt xuất, một cô nàng thời
trang, một vũ công tài ba, một đứa chuyên quyền, một ả nhếch nhác. Một thành
viên của căn hộ 4F. Bây giờ tất cả những thứ này đã mất sạch, hay - ít nhất là
trong giai đoạn - không tài nào tìm thấy được. Nó đã không kiếm được thứ gì để
thay thế chúng. Có lẽ là trừ Julia. Nó thật may mắn khi có Julia.
Điều lý tưởng là, bạn lớn
lên cùng gia đình trong một ngôi nhà rồi đi học đại học. Bạn rời khỏi nhà và để
lại gia đình ở đó, gần như chờ đợi bạn. Bạn để lại một lỗ trống cỡ bằng hình
dáng kích thước của bạn. Thỉnh thoảng bạn về nhà và lấp chỗ trống đó.
Có lẽ đây chỉ là một ảo
tưởng. Không có gì giữ nguyên như cũ. Bạn không thể mong đợi gia đình mình ngồi
nguyên một chỗ như một khúc phim hoạt hình bị treo cho đến khi bạn quay lại.
Điều đó đòi hỏi một kẻ ái kỷ trẻ con mà ngay cả Carmen cũng không làm nổi. (Ừa,
cứ cho là nó có thể làm được chút ít.) Nhưng ảo tưởng thì đã sao nào? Ảo tưởng
đôi khi cũng rất có ích đấy chứ.
Điều quan trọng là nhà vẫn ở
một chỗ còn bạn thì phải dịch chuyển. Bạn luôn có thể đánh dấu vị trí của mình
trên thế giới nhờ vào khoảng cách của bạn so với nó. Mình ở xa nhà quá, bạn
nghĩ thế, khi ở Trung Quốc chẳng hạn. Mình ở gần ngay đây rồi, bạn nghĩ,
khi bạn vòng vào ngã rẽ cuối cùng và lại nhìn thấy nó.
Như mẹ Carmen thích chỉ ra,
trẻ vị thành niên và trẻ con mới chập chững đi chẳng khác gì nhau. Cả hai đều
thích bỏ mẹ lại, chừng nào mà mẹ nó không dịch chuyển.
Mà, mẹ Carmen lại có di
chuyển. Bà là một mục tiêu di động. Nhà là thời điểm chứ không còn là nơi chốn.
Carmen không thể quay lại đó nữa.
Theo như Carmen biết, chuyện
đó khiến việc bỏ đi trở nên khó khăn gấp bội. Nó cũng khiến việc đánh dấu địa
điểm của mình thành ra cực kỳ hóc búa.
Bảy tháng đầu năm học, chẳng
có gì quen thuộc và chẳng có gì là thật. Có lẽ trừ mỗi thức ăn. Nó cảm thấy như
thể mình đã bước ra khỏi dòng chảy của thời gian. Nó nhìn thời gian trôi qua,
nhưng lại không hòa mình vào đó. Nó chỉ đứng đó đợi, tự hỏi khi nào thì đời
mình bắt đầu lại.
Trước đó nó đã sống thật
hoành tráng. Thực sự hoành tráng. Nó tham vọng, nó xinh xẻo. Nó là một cô gái
đầy màu sắc. Giờ nó cảm thấy như một bóng ma. Thức ăn nhiều bột, nhợt nhạt
trong căng tin làm nó cũng nhợt nhạt và trắng như bột. Chúng làm mờ các đường
nét của chính nó.
Nó phụ thuộc quá nhiều vào
ngữ cảnh để hiểu được chính mình. Khuôn mặt bạn bè và khuôn mặt mẹ nó là những
tấm gương với nó. Vắng họ nó không thể nhìn thấy chính mình; nó lạc lối. Thoạt
tiên nó nhận ra điều đó vào cái mùa hè kỳ lạ và cô đơn ở Nam Carolina khi gặp
gia đình đông đúc của mình.
Nó và Win Sawyer, anh chàng
nó gặp mùa hè vừa rồi, đã hẹn hò được vài lần vào mùa thu, nhưng nó đã cố tình
để chuyện đó xuội đi. Nó không hiểu và không thích bản thân mình đủ để mong
được hiểu và được thích khi ở cùng anh. Nó không có gì để trao đi.
Hóa ra nó không giỏi kết bạn
cho lắm. Đó là một trong những vấn đề nảy sinh từ việc có ba đứa bạn, có-sẵn,
gần như là đợi mình sinh ra để đánh bạn với mình. Nó không hề phải dùng đến cái
loại cơ bắp mà ta phải dùng để kết bạn. Nó ngờ là mình còn chả có loại cơ bắp
đó.
Sai lầm đầu tiên của nó là
tin rằng nó và người bạn cùng phòng, Lissa Greco, có thể là bạn ngay lập tức,
và rằng mối quan hệ của bọn nó sẽ là hòn đá tảng nối bước vào những hệ quả xã
hội. Lissa giúp nó ngộ ra khá nhanh chóng. Nó đến học ở Williams với hai đứa
bạn thân nhất từ trường nội trú. Nó xấu tính và coi thường Carmen. Nó không cần
tìm thêm bạn bè. Nó đổ cho Carmen lấy cắp quần áo của nó.
Ban đầu Carmen hoang mang vì
cô đơn và muốn gặp Tibby, Bee và Lena ghê gớm. Nhưng khi thời gian trôi qua, nó
bắt đầu tránh ba đứa kia bằng những cách rất tế nhị. Nó không muốn thừa nhận
với mấy đứa kia hay với chính mình rằng việc đi học đại học không thành công
như mong đợi.
Có một lần, nó đi Providence
và chứng kiến Bee sống trong vinh quang: bạn cùng đội bóng, bạn cùng phòng
hoành tráng, bạn cùng ăn, bạn tiệc tùng, bạn ngồi thư viện. Nó thấy Lena trong
một dạng vinh quang khác, lặng lẽ trong xưởng vẽ, những bức họa chì đẹp đẽ vây
quanh. Cuối tuần nó ở New York với Tibby, ba đứa nó trong một phòng, tính cả
Brian, Tibby giành được giải thưởng toàn khoa cho bộ phim ngắn đầu tiên của nó.
Carmen không muốn chúng đến
gặp nó ở đây, nơi nó chả hề có tí vinh quang nào. Nó không muốn chúng nhìn thấy
nó như thế này.
Carmen gặp Julia lần đầu vào
cuối mùa đông trong khoa Điện ảnh, nơi nó đăng ký học lớp Biên kịch. Julia nhầm
nó với một người làm ở rạp hát. “Cậu dựng cảnh à?” nó hỏi Carmen.
Carmen không biết đứa kia
đang nói chuyện với ai, “Tớ á?” cuối cùng nó hỏi lại. Nó không chắc điều nào
đáng ngạc nhiên hơn: việc Julia nhầm nó với một người trang trí phông màn hay
việc Julia nói chuyện với nó.
Mình đã rơi xuống thấp biết
chừng nào, Carmen khổ sở nghĩ. Không ai ở trường cấp ba nhầm nó
với một đứa trang trí phông màn. Nó là một trong những cô gái xinh xắn, đặc
biệt là cuối năm lớp Mười hai. Nó khoe rốn trong những chiếc sơ mi bé tí. Nó
đong đưa ra mặt. Nó thoa son đỏ chót đi thi SAT.
Carmen cố cóp nhặt chút ít
tự tôn. “Không, tớ không hẳn là người làm phông cảnh,” nó nói.
“Ồ, thôi nào. Ai chả là
người làm phông cảnh. Jeremy Rhodes đang chỉ đạo sản xuất vở The Miracle
Worker cho tuần cuối, và bọn tớ đang quẫn hết cả lên đây,” Julia giải
thích.
Carmen nhận ra Julia ở căng
tin. Julia là một trong rất ít sinh viên năm nhất được mọi người biết đến. Nó
xinh đẹp và có vẻ ngoài rất xi nê, da trắng xanh còn tóc thì đen dài. Nó vận áo
khoác vintage, váy bô hê miêng dài và khua rổn rảng hàng đống nào kẹp tóc,
chuỗi hạt và vòng tay chân. Nó nhỏ, gầy nhưng cử chỉ thì khoa trương kiểu của
người biết mình đang được người khác nhìn vào.
“Ờ, xin lỗi,” Carmen nói.
“Cho tớ biết nếu cậu đổi ý,
nhé?” Julia nói. “Đó là một nhóm rất đỉnh đấy. Thực sự thân thiết.”
Carmen gật đầu rồi chuồn mất
tiêu, nhưng nó thực sự đã suy nghĩ về chuyện đó. Nó khao khát mong có gì đó để
làm và những người “thật đỉnh” để làm cùng.
Vài tuần sau, Julia tiếp cận
nó lần nữa trong căng tin. “Này, sao rồi?”
Carmen thấy ngượng vì nó
đang ăn một mình. Nó bị giằng xé giữa cảm giác khó chịu khi Julia thấy nó thế
này và cảm giác sung sướng khi tất cả những người kia đang nhìn nó với Julia.
“Ổn,” Carmen nói.
“Cậu có vào được lớp Biên
kịch không?”
“Không,” Carmen nói. “Vở
kịch thế nào rồi?”
“Tốt lắm.” Julia mỉm một nụ
cười chiến thắng. “Vẫn đang tìm người tham gia.”
“Ồ, thế hả?”
“Ừa. Cậu cứ nghĩ mà xem.
Jeremy ngầu lắm. Chỉ có ba buổi biểu diễn mà sau kỳ thi mới bắt đầu cơ. Sao tối
nay cậu không đến đi? Bọn tớ có buổi tập dượt lúc bảy giờ. Xem thử xem cậu thấy
thế nào.”
“Cảm ơn,” Carmen nói, cảm
thấy gần như biết ơn một cách lố bịch. Biết ơn vì Julia đã để ý đến nó, nhớ nó,
nói chuyện với nó, mời nó làm gì đó. Julia có biết nó ở đây cô độc thế nào
không? “Có khả năng tớ sẽ đến,” nó nói.
Nó biết ơn đến nỗi có thể sẽ
đồng ý kể cả Julia mời nó uống Kool-Aid tẩm độc.
Và thế là, một tuần sau,
Carmen thấy mình đứng trên thang, lưng đeo một dây đồ nghề. Nếu bạn bè thấy nó
lúc đó, chúng sẽ không nhận ra đâu. Không ai trong lớp tốt nghiệp cấp ba có thể
nhận ra nó. Hay ít nhất, nó hy vọng bọn chúng sẽ không nhận ra. Đến nó còn
không nhận ra chính mình nữa là. Nhưng mà thực ra, nó là ai? Là ai nhỉ?
Nếu biết được, nó chắc hẳn
sẽ không đứng trên thang đeo cái dây thắt lưng đồ nghề này.
Và bây giờ, sáu tuần sau đó,
Carmen đang làm đúng việc đó, chỉ có điều đã mất đi cảm giác lố bịch. Nó thuộc
về nơi đó hơn bất kỳ nơi nào khác. Ta có thể quen với hầu hết mọi thứ.
Và nó thực sự trân trọng
việc có gì đó mà làm, có nơi nào đó mà đi sau bữa tối ngoài căn phòng ký túc.
Nó trân trọng việc Julia đối xử tốt với nó. Julia giới thiệu nó với mọi người.
Julia đảm bảo làm sao khi đội ngũ diễn viên và ê kíp đi uống cappuccino sau
buổi tập thì Carmen cũng đến. Carmen trân trọng màn đóng nhại Lissa mà Julia
làm để khiến nó vui lên khi bạn cùng phòng của nó làm một trò xấu bẩn nào đó.
Trong nhóm ở nhà hát, bao
gồm rất nhiều anh chàng thượng lưu, Carmen cảm thấy nó như một thứ phụ tùng của
Julia, một đứa bạn theo đuôi rẻ tiền. Nó thường xuyên phải nhắc lại tên mình
cho mọi người. Nhưng kệ xác. Được ra ngoài và đi quanh quẩn với tư cách là bạn
của Julia thì vẫn tốt hơn là ngồi ăn kẹo trong phòng mà không là ai cả.
Thảng hoặc nó lại thấy tủi
thân. Nó thấy mình giống hoàng tử trong “Hoàng tử và Kẻ khốn cùng” bị nhầm
thành một người không quan trọng. Các người có biết tôi là ai không hả?
Nó nghĩ. Các người có biết bạn bè tôi là ai không hả?
Nhưng thực sự, nếu ai đó bảo
nó cứ nói toẹt ra xem nào, nó sẽ nói gì? Có thể nó sẽ trả lời được câu hỏi thứ
hai, nhưng thậm chí chính nó cũng không biết câu trả lời cho câu thứ nhất.
Cậu được lợi lộc gì trong
chuyện này? nó thầm hỏi Julia, những tuần sau này, khi nó ghim váy
cho Julia lần thứ ba và con bé siết tay cám ơn nó. Đó là phần nó không tài nào
hiểu nổi.
Tháng Tư khi Julia đến gặp
nó, cầm theo mấy tập giới thiệu về Village Summer Theater Festival ở Vermont,
Carmen giật mình và, dĩ nhiên, rất biết ơn.
“Đấy toàn là những vở kịch
đích thực với rất nhiều diễn viên nổi tiếng,” Julia nói. “Cậu có muốn làm
không? Từ giữa tháng Sáu đến tuần thứ hai của tháng Tám. Để được một vai diễn
thì khó lắm, còn thì họ luôn tìm người trợ giúp sản xuất. Sẽ là một kinh nghiệm
rất hay ho đấy.”
Carmen quá sung sướng khi
được mời, nó sẽ đồng ý chỉ với lý do độc nhất là đã được mời. Sau đó nó sẽ phải
xin bố mẹ đồng ý tài trợ tiền.
“Carmen, con quan tâm đến
sâu khấu từ lúc nào thế?” bố nó muốn biết khi nó gọi cho ông hỏi xin tiền. Nó
gọi cho bố đúng lúc ông đang trên xe từ nhà đến công ty.
“Từ khi, con không biết
nữa... Từ bây giờ.”
“Ừa, bố nghĩ con lúc nào mà
chẳng kịch tính,” ông đăm chiêu nói thành tiếng lớn.
“Cám ơn bố rất nhiều.” Đây
là thứ bạn phải chấp nhận khi hỏi xin tiền.
“Bố nói thế theo nghĩa tốt
nhất đấy, Thỏ con ạ. Bố nói thật.”
“Vâng,” nó đáp chắc nịch.
“Mà bố nhớ là con đóng vai
một củ cà rốt dữ tợn trong món xa lát trong vở kịch hồi lớp một.”
“Cà chua. Mà con không đóng
kịch.”
“Thế con làm gì?”
“Việc hậu trường.”
“Việc hậu trường á?”
Ông phản ứng như thể nó bảo sắp sửa ăn tai của chính nó.
“Vâng.” Nó bắt đầu cảm thấy
cần biện hộ.
“Carmen, con yêu, trong đời
con, con chưa bao giờ làm bất cứ điều gì ở hậu trường cả”
Ông đang trong tâm trạng hài
hước lắm chuyện, phải không nhỉ? Nó thầm nghĩ.
“Vậy có khi đến lúc rồi,” nó
nói.
Nó nghe tiếng ông tắt máy ô
tô. Im lặng. “Thỏ con, nếu thực sự con muốn thế, thì bố sẵn lòng cho con tiền
thôi,” ông nói.
Khi ông khó chịu thì dễ dàng
hơn. Khi ông tốt tính, nó thấy mình thực sự phải nghĩ.
Đây có phải là thứ nó muốn
không? Nó nghĩ đến Julia. Hay Carmen chỉ muốn có cảm giác được cần đến?
Nó điểm lại những lựa chọn
của mình. Bee sẽ đi Thổ Nhĩ Kỳ, Tibby học thêm ở New York, còn Lena sẽ ở
Providence. Mẹ nó và David đang bỏ rơi căn hộ của nó - nhà của nó - và dựng một
ngôi nhà lớn ở ngoại ô trên một con đường mà nó chưa từng nghe tên.
“Đây đúng là thứ con muốn,”
nó nói.