Nỗi đau kéo dài 36 năm sau cơn bắn giết
NĂM 1967 KHÔNG BAO GIỜ PHAI
NHẠT TRONG KÍ ỨC CỦA NGƯỜI DÂN SÔNG VỆ
SÔNG VỆ, Việt
Nam
- Khói hương bay quanh trên ngôi mộ khi bà Tám Hậu quỳ gối trên nấm cỏ xanh.
Hai tay run rẩy, bà lặng lẽ cầu nguyện cho người bác đã tình cờ gặp phải binh
sỹ Mỹ từ rất lâu rồi. Cũng như bao nhiêu người khác, ông đã không thể sống sót.
Bị đạn băm nát, thi thể của ông Đào Huệ đã được tìm thấy gần sông, cách túp lều
ông vẫn sống với cháu mình khoảng một dặm. Người thợ mộc già ấy là một trong
những thường dân đầu tiên bị binh sỹ Mãnh Hổ giết hại trong một chuỗi những
hành vi tàn bạo đã làm thay đổi mãi mãi vùng thung lũng Sông Vệ.
Vết tích ở khắp
nơi: những nấm mồ vô danh dọc theo những đường mòn, khúc sông quành nơi người
làng đã cố ẩn náu tránh binh lính, cánh đồng lúa nơi người ta đã phải kéo những
xác chết lên khỏi bùn. Những câu chuyện binh lính bắn giết dân làng trong mùa
hè năm 1967 được người ta kể lại ở trường học, đình làng, và những kì giỗ chạp.
Người già vẫn còn tả lại cảnh trực thăng thả truyền đơn cảnh báo mọi người phải
dọn vào trại tái định cư. Rồi chỉ ít hôm sau, binh lính đeo “phù hiệu gà,” tức
là binh phù hình chim ưng của Sư đoàn dù 101 trên quân phục lính Mãnh Hổ, đã
tới lùa dân ra khỏi nhà, tịch thu lương thực, và châm lửa đốt làng. Và sáu tuần
lễ tiếp theo đó, những binh lính đó đã giết không biết bao nhiêu người không
chịu vào trại tập trung, theo như phát hiện của tờ Blade sau khi đã nghiên cứu
hồ sơ biên bản của Quân đội và phỏng vấn hơn 100 cựu binh Mãnh Hổ và dân làng
Việt Nam.
Cho đến nay,
những vụ bắn giết đó vẫn còn gây căm giận cho những người sống sót, và nhiều
người đang lên tiếng đòi truy tố thủ phạm. “Những kẻ gây ra các tội ác đó cần
phải chịu trách nhiệm,” Võ Thành Tiến, một cán bộ địa phương 50 tuổi, nói. “Chúng đã tàn hại
cuộc sống của người dân sống dọc con sông này.” Các hành vi tàn bạo đã diễn ra
suốt bảy tháng trời, từ tháng Năm đến tháng Mười một năm 1967, và một phần ba
trong số đó là ở thung lũng này thuộc tỉnh Quảng Ngãi, một nơi hẻo lánh và cách
biệt đến mức hiệu quả của chúng vẫn còn thấy rõ sau nhiều thập niên. Nhiều dân
làng nói họ vẫn còn nhớ rõ về những hành vi của binh lính vi phạm luật chiến
tranh. Bà Tám, nay đã 70 tuổi, vừa chỉ vào bụng mình vừa nói: “Sau hơn 30 năm
mà còn đau quặn lòng. Tôi vẫn tự hỏi làm sao mà bác tôi phải chết. Ông ấy đâu
có làm gì nên tội.”
Cái chết ấy vẫn
được mọi người nhớ rõ tại Hạnh Tín, một xóm toàn những túp nhà tranh và nhà đắp
đất thó, với những lối mòn nhỏ và trâu bò thả rông. Hàng ngày, dân trong xóm ra
đồng cày cấy và trẻ em đến trường, ai cũng đi ngang nấm mồ ông Đào Huệ ở ngay
ven đường. Người già trong làng nói họ vẫn không hiểu tại sao người thợ mộc vẫn
giúp họ làm nhà lại bị giết hại. “Ông lão có làm gì đâu,” Lư Thuận, 67 tuổi,
nói, “Thế mà họ bắn ông ấy. Không có lí do gì cả. Tuyệt nhiên không.”
DÂN LÀNG VẪN NÓI ĐẾN NHỮNG
NGƯỜI “MẤT TÍCH”
Làn sương mù bao
trùm thung lũng Sông Vệ đã tan đi, để lộ một dải những mảnh ruộng lúa xanh
mướt. Võ Tài Cẩn, 12 tuổi, và hai người bạn khác không còn an toàn được nữa.
Họ đã cố ẩn náu
để khỏi bị lính bắt vào trại tái định cư. Còn bây giờ thì họ đã bị Mãnh Hổ nhìn
thấy. Chỉ mấy phút sau, họ bị bắt. Cậu bé 12 tuổi bị trực thăng đưa đi, còn hai
bạn đồng hành, hai thanh niên khiếm thị trong độ tuổi 20, bị dẫn ra một mảnh
ruộng. Hồ sơ Quân đội Mỹ viết rằng họ bị hành quyết ngay tại chỗ đó, xác bị ném
xuống hố và không được chôn gì hết. Hai người đó thuộc số rất nhiều thường dân
đã bị giết trong thung lũng vì không tuân lệnh di cư. 36 năm sau, không ai biết
rõ bao nhiêu người đã bị trung đội Mãnh Hổ hành quyết vì không chịu rời khỏi
nhà cửa của họ. Trong số khoảng 5000 người sống tại thung lũng trong năm 1967,
một số đã trốn chạy lên núi, số còn lại bị dồn vào các trại tái định cư. Còn
hàng trăm người khác vẫn bị coi là mất tích. Dân làng vẫn biết rõ tên tuổi và
nơi ở của những người này trước đây, nhưng tung tích của họ vẫn còn là điều bí
ẩn. Mãi đến khi chiến tranh đã chấm dứt, dân làng mới bắt đầu nhận ra rằng
nhiều người trong số đó sẽ không bao giờ trở về nữa. Trong đó có Võ Tài Cẩn.
Theo lời ông
Nguyễn Đàm, 66 tuổi, một lão nông trong làng, thì ngay sau khi bị bắt, cậu bé
Cẩn có nụ cười rộng mở và thường chạy chơi trên các lối mòn của làng Vạn Xuân,
đã bị đưa về một trại tái định cư. Nhưng sau chiến tranh, không ai thấy cậu
trong thung lũng nữa. Như một thành viên của thế hệ bị mất mát, “Nó đã biến mất
rồi,” ông Đàm nói. “Không ai biết nó đi đâu.” Có người nói cậu bé bị đưa vào
trại Nghĩa Hạnh, có tường bê-tông và rào kẽm gai vây quanh. Ông Đàm nói có lẽ
ông là người cuối cùng trong thung lũng nhìn thấy Cẩn lúc cậu bị đem ra trực
thăng đưa đi nơi khác. Sau đó, sợ bị giết, ông Đàm đã trốn vào núi.
VỚI NHIỀU NGƯỜI, CHIẾN TRANH
NGHĨA LÀ TẤN CÔNG NÔNG DÂN
Các gia đình
sống rải rác dọc thung lũng có nhiều giấy khai tử mang tên những người đã bị
lính Mãnh Hổ giết hại trong mùa hè năm 1967. Với Kiều Trác, tấm giấy đó nhắc
ông nhớ đến ngày cuối cùng của cha mình. Ông cụ là một trong số 10 lão nông
đang làm việc ngoài đồng khi binh lính Mãnh Hổ nổ súng vào họ và giết chết bốn
người.
Nhiều năm sau,
vụ tấn công ngày 28 tháng Bảy ấy đã trở thành điển hình cho những năm chiến
tranh đối với người dân Sông Vệ. Hàng năm, thân quyến cầu nguyện cho các nạn
nhân trong các nghi lễ Phật giáo và thắp hương nến tại mộ phần họ. Dân làng nói
vụ tấn công ấy đã trở thành hành vi tàn bạo rõ rệt nhất trong năm 1967, và cứ
hễ nói đến chiến tranh là họ nhắc ngay đến nó. Đó là lần cuối cùng người ta dám
cấy lúa công khai trong suốt cuộc chiến. Nhưng không phải chỉ có việc đồng áng
bị ảnh hưởng, mà toàn bộ cuộc sống của họ đã thay đổi hoàn toàn. Đột nhiên,
Kiều Trác trở thành chủ gia đình, phải lo cho mẹ, bốn anh chị em, và cả gia
đình riêng mới có của mình. “Cuộc sống khó khăn hẳn đi,” ông Kiều, nay đã 72
tuổi, nói. Một trận tấn công tàn bạo, và thế là ông đã buộc phải nhận hết trách
nhiệm gia đình vào mình cho đến tận hôm nay. Năm nào cũng vậy, ông tập hợp cả
nhà - 16 người, sống chung trong một căn nhà làm bằng cả bê-tông và tre nứa, để
nhắc mọi người nhớ đến người cha đã dạy ông nghề đồng áng. Kiều Công là một ông
chủ gia đình hiền lành thường làm lụng cả ngày ngoài đồng, rất ít khi có thời
gian cho năm đứa con nhỏ. Nhưng khi đã về nhà, ông thường ngồi với con và
khuyên dạy chúng về một cuộc sống có đạo nghĩa. “Cụ dạy tôi không được trộm
cắp,” Kiều Trác nói, mắt ướt lệ. “Cụ dạy tôi phải tránh những điều xấu ở đời.”
Cha ông không tham gia du kích. Trầm ngâm nhìn lên bàn thờ nghi ngút khói hương
trong gian phòng chật chội của mình, ông chỉ vào tên của cha ở trên tường và
nói, “Ông cụ chỉ muốn làm ruộng.” Cuộc bắn giết năm 1967 đã mãi mãi biến đổi
cuộc sống ở đây.
Trong thung
lũng, một phần của một thế hệ đã trưởng thành mà không có bố mẹ và ông bà. Gia
đình nào cũng có một câu chuyện. Lính bắn người đang làm đồng. Lính bắn các cụ
già ở rìa làng. Lính bắn ông lão ở gần khúc sông quành.
“Biết bao nhiêu
người đã chết,” chủ tịch xã Võ Thành Tiến nói. Đó là lí do tại sao ông và nhiều
người khác đều nói chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam cần điều tra các hành động tàn
bạo đã diễn ra trong thung lũng gần 40 năm về trước. Ông Võ và những người khác
nói họ muốn biết tại sao Quân đội Mỹ đã để binh lính làm càn như vậy, nhất là
đối với những thường dân.
Theo các sử gia
Việt Nam, không như những khu vực khác trong tỉnh Quảng Ngãi, thung lũng Sông
Vệ, nối với bờ biển bằng những con đường đất ngoằn nghèo, không phải là một cứ
địa kháng chiến. Trải nhiều thế kỷ, lưu vực màu mỡ đó đã có cư dân sinh sống
bằng lúa nước. Lư Thuận, người đã trốn tránh trong núi, nói “Dân ở đây không
làm gì khác hết.”
Ông Võ nói những
vụ tấn công dân thường trong thời gian từ tháng Sáu đến tháng Tám năm 1967, là
những tội ác chiến tranh mà người Mỹ không chịu công nhận. Ông nói “Chúng tôi
nghĩ chính phủ Mỹ nên có trách nhiệm nhìn nhận lại những gì đã xảy ra trong
chiến tranh đối với người dân ở đây.” Các hồ sơ trong kho Lưu trữ Quốc gia -
chủ yếu là những báo cáo của tiểu đoàn trong năm 1967, cũng không cho thấy dân
làng Sông Vệ có thù địch gì với lính Mỹ. Cựu binh Mãnh Hổ nói nhiệm vụ của họ
là ngăn chặn việc đồng áng ở Sông Vệ để làm mất nguồn lương thực tiềm tàng của
Việt Cộng.
Trong cuộc điều
tra kéo dài bốn năm rưỡi của Quân đội - từ năm 1971 đến năm 1975, 14 binh sỹ
nói họ đã chứng kiến hoặc tham gia các vụ bắn giết ít nhất là chín dân làng
không có vũ khí trong thung lũng. Nhưng đó chỉ là những trường hợp được ghi
nhận trong báo cáo.
Trong những
phỏng vấn mới đây với tờ Blade, nhiều cựu binh Mãnh Hổ nói họ đã bắn nhiều dân
làng mà không bao giờ đếm xác những người đó. Nhiều vụ tấn công được tiến hành
sau khi thung lũng đó được tuyên bố là vùng “bắn phá tự do,” một định nghĩa
quân sự mà binh lính hiểu là họ có thể tha hồ bắn vào thường dân không có vũ
khí. Thực ra, định nghĩa đó chỉ cho phép binh lính tấn công khi họ bị bắn mà
không cần xin phép chỉ huy, và chỉ được bắn vào quân địch chứ không phải vào
dân thường.
Nhiều cựu binh
Mãnh Hổ cũng nói không có biên bản nào theo dõi số người đã bị đơn vị giết chết
trong thung lũng Sông Vệ. Cựu Trung sỹ William Doyle, một toán trưởng trong
trung đội, nói “Chúng tôi giết bất kì cái gì biết đi, bất kể là thường dân hay
là không. Chúng không được có mặt ở đó.”
Với thanh niên
trong thung lũng, vẫn còn nhiều câu hỏi quanh vấn đề tại sao lính Mỹ lại giết
nhiều dân làng đến thế. Cháu gái một nông dân đã bị lính Mãnh Hổ bắn chết nói
cô vẫn còn hoang mang về cái chết của ông mình. Kiều Thị Lan, 29 tuổi, một cô
giáo nhà trẻ, nói: “Ông cụ chỉ là thường dân, chỉ là một nông dân.”
Hàng xóm của cô
là chị Nguyễn Thị Quế, 37 tuổi, thì được họ hàng kể cho biết về cái chết của mẹ
mình. Chị nói lúc mẹ chị bị một lính Mỹ bắn chết và bỏ xác trong hầm thì chị
mới có sáu tháng tuổi. “Mỗi lần nghĩ đến mẹ, tôi lại thấy uất giận những tên
lính Mỹ đã giết bà.” Là một bà mẹ có ba con, chị nói chị thường nghĩ đời chị sẽ
khác biết bao nếu mẹ còn sống. “Thấy bạn bè còn mẹ, tôi buồn lắm,” chị nói khi
đứng bên ruộng lúa, đứa con gái chín tuổi đang chơi bên cạnh. Ngay các bô lão
đã sống sót qua chiến tranh cũng nói họ không thể giải đáp những thắc mắc ấy.
Quì bên nấm mộ của bác mình, bà Tám Hậu chầm chậm lắc đầu khi nhắc đến người
quá cố Đào Huệ, một người góa vợ không con. Ông lão 68 tuổi ấy đang gánh ngỗng
về nhà mình sau khi đã lội qua khúc sông nước cạn và đã bị một trung úy Mãnh Hổ
bắn chết. “Tội nghiệp ông cụ,” bà Tám nói. “Ông cụ thật tốt bụng, chẳng hại ai
bao giờ. Tại sao chúng lại làm vậy với ông?”