Qua ba ngọn núi, truy tìm nơi
“y tá Trâm” ngã xuống
Sau đêm trú lại
ven đèo Ải, chúng tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ của chị Tạ Thị Ninh. Đây là điểm
dừng chân của chị Đặng Thùy Trâm mỗi lần xuống núi, từng ghi sâu biết bao kỷ
niệm. Hôm sau, phương án tìm đến nơi chị ngã xuống cách nay 35 năm được anh Võ
Ngọc Ký, Bí thư Đảng ủy xã Phổ Cường duyệt lần cuối và chúng tôi xốc ba lô, lên
đường.
Ngoài anh Võ
Ngọc Ký và chị Tạ Thị Ninh, nguyên y tá chiến đấu và là em kết nghĩa của chị
Đặng Thùy Trâm, đoàn còn có những người từng khiêng thương và công tác tại vùng
rừng núi Ba Tơ như ông Huỳnh Đình Thê, nguyên trưởng công an xã và ông Lê Sáu,
nguyên y tá tổ điều trị phía sau - học viên của bác sĩ Đặng Thùy Trâm ở bệnh xá
Hố Cao. Chăm lo hậu cần cho đoàn là anh Nguyễn Hữu Hòa, dân bám trụ trước 1975,
nay lại trụ bám tại Hóc Nghì để phủ xanh 50ha rừng đồi đèo Ải...
Lộ trình chuyến
đi được phác thảo ngược hướng hành quân của các đơn vị từ khu căn cứ xuống cánh
bắc khi xưa, tức đi từ quốc lộ 1 về hướng tây băng qua đường sắt, theo bờ hồ
Ông Thọ, qua Cây Dừa Bà Được, thời chiến từng nổi tiếng từ Bắc chí Nam.
Sau hơn một giờ hành quân bộ, đoàn đến làng Ông Hai, người mà cha của anh Ký
từng “cà răng căng tai”2 kết bạn thời chống Mỹ. Theo chị
Ninh, khoảng mười ngày sau khi chị Đặng Thùy Trâm hy sinh, chính người làng Ông
Hai trong vai người buôn cau, trầu tìm xuống xuôi báo tin “y tá Trâm đã bị Mỹ
bắn chết” cho anh Nguyễn Thuận, Bí thư Đảng ủy xã Phổ Cường (em kết nghĩa của
chị Thùy Trâm, hy sinh năm 1971). Họ còn cho biết người của làng đã đắp mộ chị
Đặng Thùy Trâm tại chỗ. Nhưng họ là ai? Chắc rằng trong ký ức họ còn chứa đựng
nhiều thông tin chưa ai từng biết.
Thật buồn tiếc,
khi chúng tôi vào làng thì ông Hai đã mất vài năm. Vợ lớn của ông đã qua đời
trước đó. Còn anh Phạm Văn Đế, con trai ông Hai thì không biết gì do lúc xảy ra
sự việc, anh còn quá nhỏ.
Chúng tôi lặng
lẽ đi. Ai cũng buồn rười rượi. Làm sao cắt núi tìm đến đúng nơi chị Trâm đã hy
sinh? 35 năm đã trôi qua kể từ ngày 22 tháng Sáu năm 1970. Rừng đã khác, những
lối mòn năm xưa khuất lấp, hầu hết những người liên quan nay đã bụi mờ...
Nguyễn Thanh Tuấn lại giở ba tấm bản đồ quân sự Mỹ định hướng xuyên rừng. Sau
lưng làng về hướng nam là ngọn Chóp Vung. Nhìn lên núi, vẫn còn thấy tảng đá
mẹ, nơi mà năm 1973 quân dân Đức Phổ đã treo một lá cờ Mặt trận khổ lớn hỗ trợ
đàm phán ở hội đàm Paris, trong khi lô cốt Mỹ chỉ cách đó không quá một tầm đạn
nhọn.
Cuối cùng, chúng
tôi tìm ra người em nuôi của anh Nguyễn Hữu Hòa. Đó là cựu chiến binh Phạm Văn
Đe, 52 tuổi, nay là cán bộ thôn. Anh Đe nguyên họ Đinh, sau đó như bao người
H're khác ở Quảng Ngãi, đã đổi theo họ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Anh Đe là
em vợ của ông Hai, lấy vợ người Kinh, có sáu con. Khi chúng tôi hỏi anh Đe, con
gái thứ của anh - năm nay 22 tuổi - buông vội đứa con năm tuổi của mình xuống
đất và chạy vào núi gọi cha.
Biết lòng thành
và nhiệt huyết của chúng tôi, anh Đe nhiệt tình: “Chỗ y tá Trâm hy sinh à! Mình
biết mà, đi lên giông3 chừng tiếng rưỡi thôi! Ngày đó ông Hai
đưa mình đi rừng, ngang chỗ đó lúc nào cũng chỉ cho mình. Gần đây ít đi nhưng
mình vẫn nhớ. Chỗ đó có hai cây dầu rái4 mà!” Chị Ninh đột
ngột phản ứng: “Không phải! Chỗ đó chỉ có một cây cầy (kơ-nia), không phải dầu
rái”. Chị Ninh có lý riêng, bởi chính chị là một trong năm người du kích Phổ
Cường đã lên núi vun cao nấm mộ của chị Đặng Thùy Trâm không lâu sau khi chị
mất. Bốn người kia là anh Nguyễn Thuận (Bí thư xã ủy Phổ Cường, chị Trâm nhắc
rất nhiều trong nhật ký), Châu Thời Chín (Dũng sĩ diệt Mỹ, Anh hùng lực lượng
vũ trang), Trương Văn Mười (chồng sắp cưới của chị Ninh), Nguyễn Văn Tẩn (người
du kích đeo súng ngắn trong loạt hình của anh Nguyễn Văn Giá) đều đã lần lượt
hy sinh sau đó...
Qua làng Ông
Thiêng, đoàn chúng tôi được bổ sung vài chiếc “gậy Trường Sơn”. Đường đi quá
gập ghềnh, bất trắc, chưa kể “coi chừng có mìn còn sót lạ”(?) như cảnh báo của
dân làng. Vậy rồi, một sự cố xảy ra, qua suối đá thứ nhất, Tuấn rơi ướt chiếc
máy ghi âm Sony. Qua suối đá thứ hai, nước cao tới thắt lưng, anh Hòa ướt cái
điện thoại di động. Một trong hai chiếc máy ảnh số của tôi cũng có vấn đề do ẩm
ướt. Và rồi, một thung lũng nhỏ phì nhiêu chợt hiện ra với vài nếp nhà sàn. Ông
Thê dừng lại, sững sờ: “Trường Đảng đây mà! Chính khoảnh ruộng này anh em tôi
từng làm tăng gia nè! Trước khi về công an xã, tôi làm giáo vụ ở đây”.
Qua một suối đá
nữa, anh Đe thông báo: “Giông này hơi khó đi, cẩn thận ớ!” Mọi người ngậm tăm
lên giông, tuyệt nhiên không nói chuyện. Lên giông, thật ra là lên dốc nhưng vì
tiêu chí đặt ra là đường tắt, thật ngắn, dễ đi nên anh Đe chọn lối lên thẳng
vách núi, đi trong tư thế gập người lại, mũi chạm đầu gối! Sau gần hai tiếng
rưỡi, ba lần lên hai lần xuống dốc, chúng tôi đặt chân đến khu rừng tái sinh.
Ngang dọc đây đó là những con đường mòn cùng dấu vết các hầm than dã chiến của “tiểu
lâm tặc”, vài loại bẫy thú của thợ rừng.
“Đến rồi!” Anh
Đe nói gọn lỏn. Cả đoàn thở phào song chưa vơi căng thẳng, vạch bước theo cái
gọi là đường mòn năm xưa. Đến chỗ cao hơn, thấy trước mắt hiện ra một cây
kơ-nia đã bị đốn ngã. Thân cây to hơn một vòng tay người ôm, nằm chắn ngang
đường, anh Đe đoán nó đã hơn 70-80 năm tuổi. Quan sát phần ngọn và vết cưa đã
mục, anh bảo có lẽ cây kơ-nia đã bị đốn cách đây phải hơn mười năm. Không rõ vì
lý do nào các thợ rừng không mang nó ra khỏi rừng. Bên cạnh cây kơ-nia là một
cây dầu rái chừng 20 năm tuổi vươn thẳng lên trời với tán lá rộng mà từ giông
bên kia chúng tôi đã làm mốc để định hướng đi. Như vậy chị Ninh đúng mà anh Đe
cũng không sai. Bước tiếp... Đằng sau phần gốc cây kơ-nia cao hơn mét rưỡi, một
vệt hố đất vừa một người nằm hiện ra. Cả đoàn nhìn nhau, hầu như ai cũng nhẹ
nhõm cả người. Tuấn và tôi nhủ thầm, đúng chỗ chị Trâm hy sinh rồi.
Anh Ký-bí thư
hít một hơi dài. Đôi lông mày rậm của anh chau lại. Anh ngồi xuống và vốc lên
tay một nắm đất. Chị Ninh nói nhỏ: “Khoan đã. Nhìn xem có tấm tôn ngày ấy anh
Thuận đã viết tên và ngày mất của chị Trâm. Rồi còn mấy cục đá to phải mang từ
nơi khác đến để làm mộ chí”. Chị giải thích do chung quanh đây không có đá nên
lúc đó anh em phải khiêng đá từ xa đến. Chợt Tuấn cảm nhận nơi anh đang đứng có
một cái gì đó... Và quả thật, khi anh lấy tay sục xuống lớp đất mỏng, hiện ra
bốn tảng đá to. Tấm tôn thì tìm mãi không ra. Ông Thê, ông Sáu nói: “Chắc khi
bốc mộ về Phổ Hòa, người ta đã bỏ đâu rồi”. Bỗng chị Ninh bật khóc tức tưởi.
Trong năm người lên núi vun cao thêm nấm mộ chị Đặng Thùy Trâm ngày ấy, giờ đây
chỉ còn mình chị thôi!
Dưới sự chủ trì
của anh Ký, chúng tôi đốt nhang, giấy tiền giấy bạc, tưởng niệm chị Thùy. Rừng
chiều xào xạc, những áng mây bàng bạc trắng một góc trời. Tuấn cầu xin hương
hồn chị để được mang về TP. Hồ Chí Minh một mảnh đá vỡ làm kỷ vật chuyến đi. Cả
đoàn chầm chậm chia tay chị...
Tiếp
cận sự thật những ngày cuối cùng của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm
Chuyến tìm kiếm
địa điểm chị Đặng Thùy Trâm hy sinh thành công như mong đợi. Sau khi dừng chân
dùng cơm trưa lúc bốn giờ chiều tại nhà anh Phạm Văn Đe, dân tộc H're, chúng
tôi xuống núi. Suốt đường về, một câu hỏi được đặt ra: đâu là sự thật về những
ngày cuối cùng trong đời của chị?
Để tiếp cận sự
thật này, sau khi về lại Phổ Cường, chúng tôi đã lục lại những bài báo cũ và
ghi nhận thêm một số thông tin mới từ những người cùng thời chị Đặng Thùy Trâm
như ông Nguyễn Duy Hà (nguyên quyền huyện đội trưởng, người đầu tiên đưa chị
Trâm từ Quảng Ngãi về Đức Phổ), chị Trương Thị Thanh Thúy (nguyên văn thư huyện
đội Đức Phổ), chị Tạ Thị Ninh (nguyên y tá chiến đấu, từng sống cạnh chị Trâm
sáu tháng tại bệnh xá Hố Cao), chị Nguyễn Thị Cho (nguyên xã đội phó Phổ Cường,
người đang bảo quản một số kỷ vật liên quan với chị Trâm)...
Theo họ, sau khi
Nhật ký Đặng Thùy Trâm được phát hành, một số người công tác tại bệnh xá Đức
Phổ thời chiến hoặc từng gặp chị Trâm dưới đồng bằng đã mô tả không phù hợp
nhau, thậm chí không đúng về những ngày cuối cùng của chị, trong đó có hai ngày
21 và 22.6. Chị Lê Thị Xâng (75 tuổi, hiện ở Quảng Ngãi), bảo khi bệnh xá chỉ
còn ba người (chị Trâm, chị Xâng, chị Lãnh) và năm thương binh nặng, chị và chị
Lãnh (về sau đã hy sinh) được chị Trâm tiễn qua suối, vào làng dân tộc xin mì
(sắn). Sau đó hai chị đã quay về, nấu mì ăn trong đêm 21.6 nhưng bây giờ chị
Xâng lại không nhớ chi tiết nào về hoàn cảnh chị Trâm hy sinh trong ngày 22.6.
Chị Nguyễn Thị Kim Liên (nguyên y tá huyện đội Đức Phổ), bảo mình là người duy
nhất chứng kiến cái chết của chị Trâm. Theo đó, ngày 22.6, sau khi cùng chị
Trâm đến xem địa điểm bệnh xá mới, trên đường quay về, chị Trâm bị lính Mỹ bắn
từ cự ly rất gần, nhờ nhanh trí chị Liên lăn xuống vực nên thoát chết. Chiếc áo
bà ba đen của chị Trâm bị lính Mỹ xé rách treo trên cành cây, mấy ngày sau chị
Liên mang về may lại để mặc, sau 20 năm thì bỏ! Thật đáng tiếc, nhật ký ngày
20.6 chỉ thấy chị Trâm ghi ba chị em (không có chị Liên) nhưng chị Liên lại nhớ
trong ngày 21.6 có mình và hai anh bộ đội ở bệnh xá. Ông Nguyễn Duy Hà khẳng
định, do lúc đó bệnh xá bị lộ “nên các học viên của cơ quan nào rút về cơ quan
đó, làm gì có chuyện cô Kim Liên ở lại bệnh xá với chị Trâm”. Còn hai bộ đội
cùng đi với cô Liên? Ông đặt câu hỏi: “Họ là ai, lính của đơn vị nào, từ đâu
đến? Sao cô không nêu cho rõ?”. Phát biểu của ông khá phù hợp với tình hình
chiến trường lúc đó, căng thẳng và ác liệt đến nỗi vào ngày 13.6 những người
trong ban lãnh đạo bệnh xá - trong đó có cả chính trị viên - cũng đã gánh gồng
ra đi. Cũng vì thế, theo ông Hà, ngày 20.6 sau khi vào làng dân tộc xin mì, có
khả năng do sợ chạm địch nên hai chị Lãnh và Xâng chưa dám quay về. Thế là, trong
hai ngày 21.6 và 22.6, chị Trâm và năm thương binh nặng đã bị “đành đoạn” bỏ
rơi trong hoàn cảnh địch đổ quân phục kích khắp nơi. Về chi tiết áo bà ba đen,
theo chị Cho và chị Ninh, sinh thời chị Trâm chỉ thích mặc áo sơ mi, chưa bao
giờ họ thấy chị Trâm mặc áo bà ba như chị Liên mô tả và nếu có đi nữa thì sau
khi chị Trâm qua đời, họ chỉ có thể giữ áo làm kỷ niệm chứ không dám may lại để
mặc suốt 20 năm rồi bỏ như chị Liên nói.
Còn ngày 22.6,
theo Fred, sở dĩ chị Trâm bị bắn là do chị nổ súng chống cự, trong khi báo cáo
hành quân của quân đội Mỹ chỉ thấy ghi tịch thu một radio, một ảnh đại úy Bắc
Việt và một cuốn nhật ký, không thấy ghi tịch thu súng! Chỉ một chi tiết đã
không phù hợp, vì thế, theo họ những thông tin do Fred đưa ra cũng cần kiểm
chứng.
Vậy đâu là sự thật? Thật bất ngờ, khi chúng tôi
quay lại tìm gặp anh Phạm Văn Đe - người dẫn đường chúng tôi lên núi hôm trước
và là em vợ ông Phạm Văn Hai ở làng Ông Hai - được anh kể: “Hồi đó mình đi bộ
đội. Khoảng nửa tháng sau về nhà, nghe ông Hai kể chính ông đưa người của làng
ra bệnh xá giúp y tá Trâm. Khi y tá Trâm bị bắn, người của làng bỏ chạy. Sau đó
họ cũng bị Mỹ bắn chết, làng mang xác về chôn trong núi. Còn xác y tá Trâm, do
Mỹ phục kích suốt bảy ngày nên không mang đi đâu được. Khi Mỹ rút, người làng
mới lấy nylon phủ lên người y tá Trâm rồi đắp đất cao lên”.
Về lại Phổ Cường, ông Võ Ngọc Ký - đương kim Bí
thư Đảng ủy xã, người từng gặp ông Hai - cho biết, ông đã từng nghe như vậy.
Còn theo ông Nguyễn Duy Hà, đây là thông tin đáng tin cậy do trong chiến tranh
làng Ông Hai và nhiều làng đồng bào H're khác đối với bộ đội huyện thân thiết
như người nhà. Mặt khác, cuối tháng Sáu năm 1970, khi anh em du kích Phổ Cường
lên lập mộ chí cho chị Trâm, cũng có mặt ông tại đó. Ông nhận định, do ở trên vùng
rừng núi Ba Tơ, đồng bào dân tộc H're không đọc hoặc nghe bất cứ gì về Nhật
ký Đặng Thùy Trâm nên dứt khoát thông tin của họ vẫn nguyên vẹn giá trị như
35 năm về trước, không bị nhầm nhiễu như một số người dưới xuôi. Cũng theo ông,
trong ngày 21.6, khi chỉ còn một mình với năm thương binh, chị Trâm đã vào làng
nhờ du kích H're chuyển anh em đến nơi an toàn. Ngày 22.6, chị cùng họ tìm
đường đến địa điểm mới thì lọt ổ phục kích Mỹ. Chị Trâm đi trước, bị bắn ngay
giữa trán, ba người H're còn lại chạy thoát một đoạn rồi cũng hy sinh. Chúng
tôi nghĩ, phán đoán này của ông tỏ ra phù hợp với những gì anh Đe đã kể và cũng
tương thích với nội dung báo cáo hành quân ngày 22.6 của tình báo quân đội Mỹ.
Tuy nhiên, sau
đó Tuấn và tôi thấy cần kiểm chứng thêm thông tin từ năm thương binh nặng. Họ
là ai? Sau khi chị Trâm hy sinh, ai còn sống và hiện ở đâu? Trong những trang
cuối ghi trong nhật ký, chị Trâm có ghi tên của ba thương binh: Bối, Niên,
Bưởi. Anh Niên lúc ấy 19 tuổi, là an ninh thị trấn Đức Phổ. Chúng tôi nhờ chị
Ninh, chị Cho và ông Hà xác định quê quán của anh để tìm đến. Thật buồn khi ông
Hà thở dài: “Trong năm thương binh có ít nhất hai chiến sĩ của tôi. Sau này,
tôi đã ra huyện đội rồi tìm về xã đội nhưng chẳng còn ai. Sau khi rời trạm xá,
họ đã lần lượt hy sinh trong những năm 70-72, trong đó có Niên người Phổ Minh,
hy sinh 1972”. Còn anh Bối? Theo nhật ký chị Trâm, đó là cậu học sinh quê ở Phú
Xuyên, Hà Tây. Ngày 16.6 chị đã đọc nhật ký của Bối và nhận ra những dòng đầy
tâm trạng như mình. Không rõ sau ngày chị Trâm hy sinh, anh mất hay còn? Nếu
may mắn sống sót đến bây giờ, xin anh lên tiếng!
.................
2 Cách làm đẹp của
người dân tộc. Cà răng: lấy đá mài răng cho bằng. Căng tai: đục lỗ tai, đeo
những đồ trang sức bằng đá để tai dài và xệ xuống.
3 Sườn núi.
4 Một loại cây trên
rừng, nhựa của nó có thể đốt và dùng để bịt kín những lỗ hổng trong ghe.