|
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẦN DẦN :: Tin sách |
   |
|
 |
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẦN DẦN | Hà Hạnh
Còn
nhớ, khoảng hai năm trước, tức là đêm trước của ngày
thơ VN 2008, giới văn chương gần như lên cơn sốt vì tin
tập Trần Dần thơ sẽ bị cấm phát hành. Nhưng khi tập
thơ đến tay bạn đọc, nó lại tạo ra một cơn sốt khác,
mạnh mẽ và dai dẳng hơn thế. Lí do là: những ham muốn
giải nghĩa thơ hay phán xét tác phẩm trước khi thấu hiểu,
của phần đông độc giả, đều bị làm cho thất vọng.
Nhưng
rõ ràng, như Trần Dần từng chỉ dẫn: Đến với tôi
phải đến tự đằng trước - đằng sau có gì, toàn lá
chết những ngày qua. Chúng ta chẳng thể phủ nhận ông
một cách hồ đồ, càng không nên ái mộ ông một cách
vội vàng khi chưa thấu sáng.
Bài
tham luận này, trong khuôn khổ buổi nói chuyện, chỉ xin
tập trung vào một khía cạnh trong sáng tác của ông. Đó
là bản sắc cái tôi trữ tình Trần Dần và sự vận động
của nó trong hành trình sáng tạo.
Chúng
tôi sử dụng khái niệm cái tôi đa diện
với nội hàm: trong cái tôi này có nhiều cái tôi cùng tồn
tại hay một cái tôi mang nhiều khuôn mặt, diện mạo khác
nhau. Trong lịch sử thơ ca, cái tôi đã làm một hành trình
ngoạn mục từ cái tôi phi ngã trong thơ trung đại, đến
cái tôi bản ngã trong thơ Mới, và cái tôi đa diện (hay
đa ngã - theo cách gọi của Thuỵ Khuê) là kết quả
tư duy của một kiểu nhà thơ hiện đại. Thơ Trần Dần
không phải ngay từ đầu đã mang cái tôi đa diện, mà nó
được hình thành qua cả quá trình, ban đầu là cái tôi
lưỡng phân.
Cái tôi lưỡng phân, thai nghén
và dự phóng
Sức
sống của cái tôi trữ tình trong chặng đầu (thời
kháng chiến tới trước vụ Nhân văn) thuộc về cái tôi
mang tính chất lưỡng phân. Nó đi về giữa nỗi cô đơn
và tính cộng đồng, hoài nghi và lòng tin, can trường và
yếu đuối. Khởi đầu của sự lưỡng phân là cái tôi
chạm sử thi (tức là không nằm trọn trong khái niệm cái
tôi sử thi, mà chỉ nghiêng về sắc thái sử thi, chạm
vào đặc tính sử thi). Hoà nhập vào cuộc kháng chiến
chống Pháp vĩ đại của dân tộc, cái tôi bất phương
chủ nghĩa ngày nào tuyên ngôn về thơ Tượng trưng, đã
chọn cho mình chỗ đứng khác: giữa lòng Việt Bắc, gian
khổ, hào hùng. Tiếng nói của cái tôi, trong Đi! Đây
Việt Bắc không nghiêng về tâm sự riêng tư mà đại
diện cho lương tâm thời đại: mang ơn đại ngàn, cảm
giác mắc nợ nhân dân “nợ những người đã ngã không
tên”, là tiếng lòng của muôn chiến sĩ “chiến trường
chung dầu dãi đạn bom”, khát vọng đi vì khao khát tự
do và những chân trời mới. Cái tôi Trần Dần tuy
hùng mà không rộn rã. Nó tiết chế những tiếng reo nồng
nhiệt. Từ chối lối sống cũng như cách viết theo quy
luật ồ ạt, hớt hải, mạnh mà
nông, khỏe mà hời hợt của một thời chiến tranh,
nên ngay khi hoà bình lập lại, trong lúc tất cả vẫn say
men chiến thắng, cái tôi đã bộc lộ cảm quan lịch sử
thấu đáo và triệt để của Trần Dần, khi cảnh tỉnh:
Có
thể khẳng định, Trần Dần theo kháng chiến bằng một
tinh thần lãng mạn nhưng không phải lạc quan Cách mạng.
Cái tôi này vừa có chất lính mạnh mẽ chắc nịch trong
thơ Chính Hữu, vừa có sự lãng mạn bi tráng kiểu Quang
Dũng, vừa không nguôi trăn trở đau xót, như linh cảm về
một “chân trời tua tủa mảnh gai” (chữ của Hoàng Cầm).
Ngay lúc chạm sử thi như cái tôi chung của thơ chống Pháp,
Trần Dần vẫn nghe thấy một tiếng gọi khác, của cái
tôi thế sự. Nó đòi được biểu hiện những phương diện
khác của tâm hồn, mà trong hoàn cảnh kháng chiến, người
ta muốn nén lại, thậm chí gạt bỏ đi. Nên sau kháng chiến,
khi đa số vẫn sử dụng dấu chấm than cho chiến thắng
hào hùng, Trần Dần ném ra câu hỏi: Vì đâu? Con tàu
cuộc sống/ bỏ neo/ lên bến nghỉ/ hàng năm? Và cấp
thiết đề nghị một đổi thay Phải sửa sang/ cái vỏ
con tàu/ đây đó/ ít nhiều/ hoen gỉ?. Tỉnh thức bắt
đầu từ mối hoài nghi, khiến Trần Dần không thể chung
dòng mà ca hát tiếp. Hoài nghi và chất vấn, do đó,
là cách thức hiện diện của cái tôi Trần Dần ở thời
điểm liền sau 1954. Nó khiến thơ Trần Dần chứa cảm
thức sơ khai của kẻ độc hành. Con người thơ bộc lộ
một cách cực đoan, mãnh liệt. Đó là con người với cảm
thức không còn đường thoái lui, mới mẻ và đầy sức
công phá: đòi thống nhất/ phải đòi từ việc nhỏ
- Từ cái ăn/ cái ngủ/ chuyện riêng tư
- Từ suy nghĩ/ nựng con/ và tán vợ. Những phẩm chất
này, đã thai nghén và dự phóng cho một cái tôi đa diện,
bùng nổ ở chặng thơ sau.
Bùng nổ, đương đầu với
“thế giới tàn bạo”
Thời điểm 59-60 vốn được coi là những năm kinh hoàng,
sau vụ Nhân Văn-Giai phẩm. Không khí đen tối dội
lại không chỉ trong Cổng tỉnh của Trần Dần, mà
Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm cũng chung âm hưởng. Cái
tôi bộc lộ sự chống chọi quyết liệt với “thế giới
tàn bạo”, dù cuộc đương đầu ấy, như Đônkihôtê chống
lại cối xay gió: Tôi còn một mình kháng cự với mênh
mông. Không như chàng thi sĩ của Mưa Thuận Thành,
cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc, rồi miên man tìm
mình trong thế giới Cỏ Bồng Thi; kẻ hồi cố thành
Nam nhìn lại quãng đời mình Tôi đã sống đã lỡ lầm
chẳng nhỏ, rồi kết luận trong bơ vơ mà bất chấp:
Thôi thế là đành: tôi chẳng có ai yêu! Li khai cái
ta hay chúng ta, chúng tôi… triệt để kể từ
thời khắc ấy.
Trần
Dần không để nhân vật trữ tình trong thơ - tiểu thuyết
của mình đóng vai một người hùng, mà phức hợp: cuồng
loạn, cô đơn, yếu đuối và khao khát. Không phải đợi
gần 20 năm sau, khi cô đơn được coi như một giá trị,
thậm chí thành mốt trong thơ, cái tôi mới thổ lộ đặc
tính này. Kích cỡ bản lĩnh của nó được nới rộng cùng
biên giới của trạng thái cô đơn: Tôi cô đơn trời
xanh cô đơn trời tía/ Cô đơn nắng đào cô đơn mưa tái
nhợt đầu ô. Nếu đặt vào nguồn chung tác phẩm của
các tác giả Nhân văn, sẽ thấy cái tôi này không
lạc mạch. Có điều, hậu Nhân văn, mỗi cái tôi
nổi loạn theo một cách. Hoàng Cầm u uất mà bảng lảng
tình với cái tôi ẩn ức, tìm sự giải thoát bằng thăng
hoa những giấc mơ lá diêu bông. Văn Cao, thay vì để
cái tôi bùng nổ, trầm lắng nghe nó phân rã và xa lạ trong
chính bản thể mình. Không phải ngẫu nhiên mà từ những
năm 1978 trở đi, tiếng thơ Tố Hữu lại trở nên trầm
lắng ưu tư với nỗi cô đơn của Một tiếng đờn,
thu về Ta với ta. Chế Lan Viên làm phép Trừ đi,
nhận ra vị đắng của Bánh vẽ ngấm vào hồn, tê
tái vẽ chân dung mình: tháp Bayon bốn mặt. Nguyễn
Đình Thi cuối cuộc lữ hành tiếc nuối và day dứt. Những
kết thúc gần nhau như vậy không thể chỉ do quy luật tâm
lý và tuổi tác, mà là quy luật của cái tôi. Vì cái
tôi, trong sâu xa, không im lặng với thoả hiệp mà hầu
hết những nhà thơ trên đã chọn. Nó bật dậy, làm thành
nỗi nhức nhối trở trăn khi đời thơ đã đi tới khúc
cuối cùng. Trần Dần làm cuộc sám hối trước họ khá
lâu, cái tôi thơ Trần Dần vì thế bị giải phẫu và đau
đớn trước. Nhưng, cuộc triển diễn này của cái tôi
do đó, mở ra những điểm đến không ngờ, chạm miền
cực hạn.
Tự phủ định sau trầm luân, vô ngã
Không thể phủ nhận một thực tế, cái tôi sau thời
Cổng tỉnh bị tước mọi tính từ chỉ trạng
thái tâm trạng, điều vốn là đặc trưng cơ bản của
nó giai đoạn trước. Chẳng cô đơn, tuyệt vọng, bơ
vơ, lồng lộn nữa, cái tôi cụt jủn là thằng Tòi.
Không ai xây dựng trực tiếp cái tôi trữ tình qua thằng,
thơ ca bác học nói riêng và văn học chính thống nói chung
hay dị ứng với từ này, thường khoanh nghĩa của nó cho
một đối tượng có tính phản diện. Sau này, trong diễn
ngôn Cách mạng, từ thằng ngụ ý là kẻ đối địch
hay hạ cấp. Dựa trên cách gọi thằng, Trần Dần
đã sử dụng nó như một thứ diễn ngôn, tức là phá bỏ
một thứ taboo trong thơ. Rất có thể, Trần Dần đã khai
triển từ nhân vật của văn học dân gian: Kể từ thằng
Cuội trong tiếu lâm, đến thằng Bờm trong ca dao hay thằng
hề của chiếu chèo, điểm chung của thế -giới -thằng,
theo chúng tôi chính là tiếng cười của người lao động.
Tính chất của các nhân vật này, xét ở nhiều phương
diện, đã bộc lộ cái tôi bình dân.
Đó là những kẻ hạ đẳng, ngây thơ mà từng trải, ngoài
lề mà thông suốt, thạo đời. Với thằng (thằng thịt,
thằng truồng, thằng Tòi) trong tác phẩm của Trần Dần,
chỉ vị thế hạ đẳng và ngoài lề còn giữ lại. Nếu
mỗi nhân vật của văn học dân gian còn sở hữu một ưu
thế để tồn tại giữa đời: thằng Cuội -sự láu cá,
thông minh; thằng Bờm - cái quạt mo; thằng hề -khả năng
hài hước mà thâm thuý; thì thằng truồng của Trần
Dần chỉ sở hữu thịt mà thôi. Mà sở hữu thịt
khác hoàn toàn với sở hữu thân thể, người ta chỉ gọi
là thịt khi thân thể không còn sự sống. Đến Trần Dần,
cái tôi ngoài lề đã bị tước cả tiếng cười, sự tự
vệ cuối cùng như là cứu cánh. Nhưng, thực chất, cái
tôi kiểu này vẫn là sự chống đối lại các thiết chế
quyền lực. Giống các nhân vật nói trên, có tính cách
của sự bất thường, nó thách thức.
Trước một cái tôi như thế, người ta thường vội vàng
kết tội nó phản trữ tình, phi thơ hay tầm thường hoá
con người; nhà thơ bị ám ảnh tình dục triền miên
nên đã làm bẩn thỉu chữ đến tận cùng [24]…Chúng
tôi khoan chưa bàn tới vấn đề ngôn ngữ ở đây. Chỉ
biết, nội dung này của cái tôi tất yếu phải tìm cách
hoá thân trong một hình thức thể loại và ngôn ngữ như
Trần Dần đã viết. Riêng về cái tôi, người đọc cần
thấy, đó chính là hình ảnh con người khi bị đẩy tới
cô đơn cực độ, va vào những thái cực mà kẻ thường
không thể hình dung. Tiếng nói bị coi là lảm nhảm của
nó chính là âm thanh bùng ra khi lòng náo động những gào
kêu không tiếng. Và tình trạng của nó là hiện thực trong
một thế giới mà giá trị bị đảo lộn, thân phận con
người rẻ rúng, bị đẩy tới mức chỉ còn có thể làm
chủ thân thể của chính mình. Từ mốc khởi đầu của
cái tôi, Trần Dần đột ngột vẽ ra diện mạo của nó
khi tước bỏ đến tận cùng bản thể. Vốn chỉ quen với
cái phi ngã của thơ cổ, và bằng lòng với cái bản ngã
của Thơ mới, người đọc khó lòng chấp nhận một cái
tôi vô ngã. Vì tiếng nói của nó không đại diện cho ai
cả. Vì nó đặt ra và trả lời những câu hỏi không ngờ,
nghĩa là nó là một cái-tôi-chưa- biết! Cũng có nghĩa
là với nó và qua nó, Trần Dần đã khảo sát hộ đông
đảo chúng ta cái bản thể bị quên lãng của con người.
Trong lịch sử thơ Việt, ít cái tôi nào (dám và có khả
năng) đẩy mình vào những tự thú hiện sinh như thế. Dường
như hoài nghi, trăn trở hay sám hối đã trở thành ngưỡng
mà một vài nhà thơ tiêu biểu cùng thời Trần Dần chạm
tới rồi dừng lại.
Khép kín và đắm đuối suy tư
Giai
đoạn cuối của đường thơ, cái tôi đắm đuối trong
những diễn giải khác về đời sống. Đó là cái tôi của
chiêm nghiệm, giác ngộ sau cuộc riết róng kiếm tìm bản
ngã trong đời sống vô ngã, đã xác lập cho mình một vị
thế tồn tại không còn những chông chênh. Nó thu về, tĩnh
tại mà không yên ổn, chiêm nghiệm mà từ chối vẻ minh
triết, lạnh lùng của một triết nhân, suy tư trên những
vấn đề cơ bản của đời sống. Tổng kết đời mình,
nó thấu hiểu mình là một cái tôi ngoại cỡ, nên kiêu
hãnh đi liền hình phạt, bởi ngoại cỡ mà thành kẻ lạc
loài “Sinh tôi ra…chẳng hợp grammar nào cả”. Nhìn
về sự sống, nó sợ sống và chối từ bất tử, lựa
chọn một số phận khác, một cách thế lao động và tồn
tại khác. Nếu Dương Tường chọn ghi trên mộ
chí: Tôi thuộc về phe nước mắt, thì Trần Dần
tự xếp mình về phía nhân loại
đèn mồ, tức những con người âm thầm sáng tạo trong
bóng tối, chịu nhiều khổ nạn (chú ý chữ mồ).
Phía bóng tối, có thể ban đầu do bị đẩy vào, nhưng
không lâu sau, trở thành một chọn lựa. Bởi, chính trong
bóng tối, người ta mới có dịp quan sát và hiểu được
sân khấu cuộc đời, vị trí mà nhiều khi, người đang
mải diễn trong ánh sáng không thể có: Ngọc nữ
nô tù - ngọc nữ làm chi? tởm những nhân loại cờ
- hoa - đèn - biển. Tôi yêu nhân loại
đèn mồ .
Nhìn lại hành trình của cái tôi, có thể nhận
thấy mấy điểm căn bản như sau: Trước những
năm 60, Trần Dần đòi tự do, nhưng tự do là để biểu
hiện cái tôi công dân, cái tôi quảng trường. Cái tôi
đó có sự ảnh hưởng sâu sắc của Mayakovsky, thiên về
những tuyên ngôn, lập thuyết, cái tôi cộng sản với niềm
tin cách mạng xã hội song hành và đồng nhất với cách
mạng thi ca. Chặng 2, bị tước bỏ không gian quảng trường,
cái tôi ở vào cực điểm của cô đơn. Nổi loạn đẩy
tới tự phủ định, cái tôi bản ngã trở thành vô ngã,
thậm chí tiến tới một kiểu nhân vật đa căn cước.
Điềm tĩnh suy tư là trạng thái cân bằng mà cuối cùng
cái tôi đã đạt tới sau rất nhiều lần lột xác. Sự
vận động đặc biệt này của cái tôi vừa mang ý nghĩa
triết học về quá trình con người truy tìm bản thể, vừa
có giá trị mỹ học khi làm phát lộ không ngừng đặc
điểm của một cái tôi chưa biết trong văn học.
Trên đây là kết quả sự khảo sát về cái tôi Trần Dần
trong cả một hành trình sáng tạo. Những đặc điểm này
của cái tôi, tất nhiên, được hình thành và soi chiếu
trên một hệ thống quan niệm nghệ thuật độc đáo của
riêng ông, và biểu hiện bằng một kênh thẩm mỹ hoàn
toàn khác lạ. Có điều kiện, chúng tôi sẽ trở lại với
những vấn đề thú vị và phức tạp này. Vì rõ ràng,
thơ Trần Dần, sau những cơn sốt kia, luôn đòi hỏi một
thứ lao động dãi dàu của người nghiên cứu.
Số lượt đọc:
88
-
Cập nhật lần cuối:
02/03/2010 10:57:31 AM | |
|
|
|
|
|
Sau “Cuốn sách và tôi”, tập di cảo mà NXB Trẻ in hồi năm ngoái, chủ yếu nói về sách vốn là một mảng quan trọng làm nên sự nghiệp và tên tuổi của Vương Hồng Sển, mới đây một di cảo mới của cụ Vương đã được in, và lần này đi vào một chủ đề khác hẳn: đó là tập “Khám lớn Sài Gòn” (Nhã Nam & NXB Văn hóa-Văn nghệ TP Hồ Chí Minh). Vương Hồng Sển hoàn thành cuốn sách này chỉ vài tháng trước khi qua đời.
|
|
|
|
|