|
Nếu trăm năm sau con người vẫn còn cười :: Tin sách |
   |
|
 |
Nếu trăm năm sau con người vẫn còn cười | Cái “hành
tinh bừa bộn” hay “cái đống lộn xộn” này đang lấy mất của con người
tiếng cười? Trong cuốn sách của mình, Kurt Vonnegut không trầm tư triết
gia với những truy vấn nặng nề, mà với tư cách nhà văn, ông báo động về
sự khủng hoảng của tinh thần hài hước nơi con người.
“Nếu một trăm năm nữa con người vẫn còn cười, lúc ấy
nhất định tôi sẽ mãn nguyện lắm” – ông viết. Ông chỉ ra bản chất của sự
khủng hoảng tiếng cười trong thời đại thông tin đang có nguy cơ gây
nhiễu đạo lý và sự thật: “Óc hài hước là một cách tránh xa cuộc sống tệ
hại, để bảo vệ bản thân bạn. Cuối cùng thì bạn cũng quá đỗi mệt mỏi, còn
tin tức thì quá đỗi tệ hại, rồi óc hài hước cũng không còn hoạt động
nữa”.
Bằng một sự phản thân, tự trào, ông viết về chính tiếng
cười đang trên bờ vực suy thoái: “Có lẽ tôi không còn có thể bông đùa
được nữa – đó không còn là một cơ chế tự vệ làm chúng ta thoả mãn nữa.
Một số người thì hài hước, còn một số thì không. Trước đây tôi thường
hài hước mà giờ có lẽ hết rồi. Có lẽ đã xảy ra nhiều việc gây sửng sốt
và thất vọng đến nỗi cơ chế hài hước không còn tác dụng nữa. Có lẽ tôi
đã trở nên cau có vì đã chứng kiến quá nhiều thứ làm phật ý tôi mà tôi
không thể đối phó nổi bằng tiếng cười”.
Vậy, những sự thật mà suốt những năm cuối đời Kurt
Vonnegut chứng kiến, với nỗi “sửng sốt và thất vọng” ấy là gì? Đó là một
khung cảnh xã hội nhiều ung nhọt. Nhất là sự mị dân của đám chính trị
gia, cụ thể là Tổng thống G. W. Bush đang xây dựng trên một thiết chế
độc tài quân sự nguỵ trang bằng lớp áo lộng lẫy của dân chủ văn minh.
Kurt Vonnegut chỉ trích thẳng thừng rằng vị tổng thống này chỉ là “một
con rối” đẩy những người dân Mỹ đến bên bờ vực thẳm. Sự khinh bạc với
giới chức chính trị ở nhà văn này được bộc lộ một cách cương trực và độc
lập (dĩ nhiên, có thể cũng vì ông là một nhà văn ở nước Mỹ!): “Chỉ có
mấy thằng khùng mới làm tổng thống”. Trong mắt ông, lãnh đạo chính phủ
là “một lũ vi trùng”, “những con tinh tinh say quyền lực”… Cười nhạo sâu
cay về những tham vọng của cánh chính trị gia Mỹ, ông lật lại những
cuộc chiến tranh “vô tích sự” ở Việt Nam, Trung Đông để cảnh báo sự xói
mòn nhân văn, lý lẽ và sự thật đang diễn ra nơi đất nước mà ông đang
sống với tâm thế của kẻ không thuộc về nó – không quê hương.
Trong cuốn sách mỏng này, Kurt Vonnegut cũng hướng
tiếng cười vào cái thực tế cuộc sống hiện sinh hời hợt của con người
đương đại khi tranh thủ vơ vét nguồn tài nguyên cho bữa tiệc hiện tại.
Và ông nhìn thấy hệ quả bi hài thuộc về tương lai: “Đừng làm hỏng bữa
tiệc, nhưng đây là sự thật: chúng ta đã phí phạm tài nguyên của hành
tinh chúng ta, bao gồm không khí và nước, như thể không có ngày mai, cho
nên bây giờ sẽ không có ngày mai nữa”, “Sự thật lớn nhất phải đối mặt
bây giờ – thứ có lẽ sẽ làm cho tôi thôi không hài hước nữa từ giờ cho
đến cuối đời – chính là việc tôi nghĩ người ta cóc thèm biết hành tinh
này có tiếp tục tồn tại nữa hay không”, “Tôi biết rất ít ai đang mơ về
một thế giới cho con cháu họ”.
Mang tư duy khoa học vào trong văn chương, Kurt
Vonnegut nhận ra một sự thật nực cười về văn chương thời ông đang sống:
trong thời kỹ nghệ thống trị nhưng đa số các tác gia Mỹ “chẳng biết gì
về công nghệ”, giới phê bình đa số là sản phẩm của khoa ngữ văn nên ra
sức hoài nghi những ai quan tâm đến công nghệ. Còn tác phẩm văn học thì:
“Tôi nghĩ rằng tiểu thuyết mà bỏ sót công nghệ thì phản ánh cuộc sống
sai lệch tồi tệ chẳng kém gì người thời Victoria phản ánh cuộc sống sai
lệch vì đã bỏ sót yếu tố tình dục”. Nhưng, là một kẻ quá hiểu sự điều
khiển trở lại của công nghệ lên đời sống con người, ông lại viết: “Mấy
cái cộng đồng điện tử chẳng làm nên được thứ gì. Rốt cuộc bạn chẳng có
gì. Chúng ta là những con vật nhún nhảy”.
Còn tinh thần tôn trọng sự thật thì sẽ còn tiếng cười.
Cuốn sách mỏng được viết đầy phóng túng, ý tưởng văn chương, loạt tranh
biếm hoạ đầy hài hước của chính tác giả đã đạt tới một sự tự do, tự
nhiên tuyệt đối trong lối viết mà văn chương cần hướng tới.
“Mark Twain và Abraham Lincoln đang ở đâu khi chúng ta
cần họ?” Còn ai giúp chúng ta tự cười nhạo mình và quý trọng những câu
chuyện đùa thực sự quan trọng, thực sự đạo lý trong cái hành tinh bừa
bộn không còn biết đến ngày mai này?
Nguyễn Vĩnh Nguyên
|
KURT VONNEGUT (1922 – 2007)
Sinh ra ở bang Indiana nước Mỹ trong một
gia đình khá giả, ông theo học ngành sinh hoá đại học Cornell. Cuộc đời
Kurt Vonnegut trải qua nhiều biến cố chi phối tư tưởng, lối viết của ông
về sau: cơn đại khủng hoảng kinh tế 1929; tham chiến và bị bắt làm tù
binh ở Dresden (Đức), chứng kiến cảnh 135.000 dân thành phố này trúng
bom của lực lượng đồng minh; thoát chết nhờ trốn trong nhà tù
Slaughterhouse... Sau chiến tranh, ông học tiếp đại học Chicago và trở
thành nhà giáo, nhà báo, nhà văn, hoạ sĩ, biên kịch danh tiếng… Ông cũng
là diễn viên thủ những vai phụ, thoáng qua trong các tác phẩm điện ảnh
chuyển thể từ chính tác phẩm của mình.
Kurt Vonnegut là tác giả của 14 tiểu
thuyết, 3 tập truyện, 5 tập tiểu luận, hồi ký, 5 vở kịch và hơn 10 tác
phẩm phóng tác nổi tiếng, có tác phẩm được đưa vào giáo khoa, giáo trình
nhiều trường trung học, đại học tại Mỹ. Những tựa sách tiêu biểu của
ông: Player Piano, The Sirens of Titan, Mother Night, Cat’s Cradle, God
Bless You, Mr. Rosewater, Slaughterhouse-Five, Welcome to the Monkey
House, Breakfast of Champions, Slapstick, Timequake… Ông có sức ảnh
hưởng mạnh mẽ đến phong cách của nhiều nhà văn đương đại của thế giới.
Giả tưởng, hài hước đen là những đặc trưng độc đáo trong tác phẩm của
nhà văn hậu hiện đại hàng đầu nước Mỹ này.
A man without a country – A memoir of life
in George W. Bush’s America (Người không quê hương – Hồi ký về nước Mỹ
thời George W. Bush – Nguyễn Khánh Toàn dịch, Nhã Nam & NXB Thông
Tấn, 2011) là cuốn sách được viết trong những năm cuối đời của Kurt
Vonnegut, cũng là cuốn sách đầu tiên của Kurt Vonnegut được dịch sang
tiếng Việt.
|
Số lượt đọc:
83
-
Cập nhật lần cuối:
11/09/2011 03:06:47 PM | |
|
|
|
|
|
Cuốn sách như một bộ bách khoa toàn thư
độc đáo và cuốn hút với sức hấp dẫn của văn chương hạng nhất này đã ra đời từ
năm 1980, song nếu tính theo thang thời gian vũ trụ thì nó chỉ vừa được viết
xong, đúng như tinh thần một câu trong sách này - “Vũ trụ chỉ mới được khám phá
ngày hôm qua” (tr.571).
|
|
|
|
|