Phạm Thị Hoài
Ðúng
mười năm trước tôi được
đưa đến ra mắt Trần Dần, sau khi
ông đọc bản thảo một số truyện ngắn
đầu tay chưa công bố của tôi. Làng văn Hà Nội khi
ấy, trong đêm trước của cuộc cởi trói ngắn ngủi, có
một không khí nhộn nhịp nhất
định. Dân văn chạy ngược xuôi trong văn, không tất tả
việc khác như bây giờ. Cả
người viết lẫn người đọc
đều chờ một cái gì không rõ, nhưng sẽ
đến, và có lẽ vì thế mà
háo hức, không lãnh-đạm-biết-rồi như
hiện tại. Khi đó chưa nhà nào có
điện thoại riêng, muốn trò
chuyện phải tìm nhau tận mặt, rượu tây chưa phổ
biến, thức nhắm còn nghèo nàn, thuốc lá
Liên Xô Ấn Ðộ đã là sang,
đi xe máy là ngoại hạng, và
mọi người đều viết tay trên giấy xấu... Cảnh hàn vi
đó nuôi lớn một thứ chủ
nghĩa lãng mạn giản dị, đầy tính lý
tưởng và cũng đầy ảo tưởng giờ
đây đã biến mất. Hà Nội, khi Trần Dần qua
đời, khác xa mười năm trước, khi tôi hồi hộp
đến gặp ông như gặp một thủ
lĩnh văn chương trong bóng tối.
Không
người viết nào muốn thuộc về
phía tối của đời sống văn học, song khi phía
được chiếu sáng quá tầm thường thì
được khuất mặt có thể là một hãnh diện chính
đáng. Trước khi ông tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp
đại náo làng văn thì Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) với mọi
huyền thoại của mình đã luôn là
một trong những cái chợ đuổi có
sức mê hoặc lớn hơn cửa hàng văn học mậu dịch nhiều.
Văn học của NVGP tập trung ở
những tác giả và tác phẩm cụ
thể của nhóm ấy thời ấy, nhưng tôi quan niệm tinh thần
NVGP rộng hơn, bao trùm một số
quan niệm, phong cách, nguyên tắc, thái
độ ứng xử, đề tài... nhất
định, có thể tìm thấy ở
những chỗ khác thời khác, ở
độc giả, ở các nhà phê bình, thậm chí
ở những người từng quyết liệt chống NVGP hoặc rất
sợ dính vào đó. Nguyễn Tuân là
một trong những nhà văn luôn ký
tên hàng đầu trong các bản
án chống NVGP, song chính cái tinh thần NVGP trong
ông được kết hợp ở thế chân kiềng với tài năng và
lòng biết sợ đã tạo cho ông một
đặc cách trong văn học chính thống.
Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây cũng tương tự như vậy. Song sau nhiều chục năm, số
tác phẩm ra đời trong những hoàn cảnh như thế không còn
đọng lại bao nhiêu. Như thể không ai chết
được nhiều lần, mà trong tinh thần NVGP
ấy, các chiến sĩ ưu tú nhất
đã ngã xuống cho những lý tưởng khác trước khi kịp
hy sinh cho nghệ thuật. Khi tiếp xúc với thế
giới của họ, tôi đã hy vọng là
sẽ trèo qua nhanh cái nấc thang thứ
nhất đương nhiên là rất quan trọng, vì
nếu không thì chẳng vào với nhau
được: đó là bi kịch mà ai cũng biết
ít nhiều về NVGP. Trèo qua nhanh, vì
đã bận tâm vào đó thì không thể
chỉ rỏ nước mắt vào rửa những vết thương bên ngoài.
Tôi hình dung rằng những vị
tử vì đạo rất ghét kẻ nào chạy lăng xăng quanh nỗi
đau của họ, ăn theo những thăng trầm của họ. Mà
tôi lại chú tâm vào những bi kịch văn học hơn, cho nên
nấc thang sau và sau nữa là cái
đích của tôi.
Văn
học không chỉ sinh ra từ
cuộc đời bên ngoài, mà
còn sinh ra từ chính văn học. Khi bước vào nghề
văn, tôi muốn biết cái nồi văn mà
tôi đang nấu, hoặc
định nấu, được kê bằng cái gì,
được đun bằng cái gì. Trừ
ngoại lệ lớn nhất và
bền bỉ nhất là Trần Dần cùng một vài người
chịu ảnh hưởng trực tiếp của
ông, tôi luôn có cảm giác rằng giữa những người theo
tinh thần NVGP và tôi có trò
chuyện, nhưng hầu như không có
một đối thoại thật sự, và
những cuộc trò chuyện giữa
đôi bên bao giờ cũng chỉ dừng
ở một chiều sâu lịch sự, dễ
chịu, không thể đi quá một chút nào, và
luôn luôn quanh quẩn ở cái nấc thang thứ
nhất kia. Dường như thời gian
ở chỗ họ từ lâu lắm rồi
đã không nhích thêm gang tấc nào, tôi thì
đầy sự
nôn nóng của tuổi trẻ, mà
lại phải rất cẩn thận để
không làm tổn thương ai. Luật của chúng ta dường như
là vậy. Ðày đọa, thanh trừng, xóa sổ
kẻ khác thì được, nhưng làm mất lòng thì
không. Tôi không thể nói thẳng với họ, rằng tôi không
nhất thiết phải đọc họ chỉ
để biết rằng, nhà văn cần
yêu ai cứ nói là yêu, ghét ai cứ nói là ghét,
điều đó tôi được học ở
nhiều chỗ khác rồi, mà không phải là
học qua văn chương. Nói như
thế là bạc, là phản bội, là
rũ trắng mọi khổ đau đen ngòm của người khác. Nhưng
có lẽ tôi đã kỳ vọng ở
họ nhiều quá. Khi tuổi trẻ
bị bịt đường lên phía trước thì
nó ngoảnh lại phía sau mãi như
vậy và thành những ông cụ
bà cụ non. Tôi đã tìm một lối
để thoát khỏi văn học Việt Nam
đương đại. Cái văn học đó buồn tẻ, nhưng cuối cùng
thì lối thoát của nó không phải là
giật lùi về đỉnh cao của những năm 50. Cũng như
vậy, văn học đổi mới hiện tại chẳng còn gì
đáng nói nhiều nữa, song nó
không nên ngoảnh lại tiếc nuối cao trào 1988-1989.
Trong
những điểm cốt yếu, văn học của nhóm NVGP cùng một
bản chất với văn học chính thống sau này. Có
thể coi đó là sơ kỳ
của văn học hiện thực xã
hội chủ nghĩa. Còn phần lớn các tác phẩm cuối những
năm 80 mà trong nước tuy gọi
đùa, nhưng có lý của nó, là
Nhân Văn 2, ngoài nước gọi là
văn học phản kháng, là mạt kỳ
của văn học hiện thực xã
hội chủ nghĩa. Thực ra những người làm nhiệm vụ duy
trì và bảo vệ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
có thể yên tâm lâu dài: một mạt kỳ có thể kéo thêm
cả thế kỷ, mà theo tôi thì văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa hoặc một cái gì na ná như vậy còn có tương
lai vô tận ở Việt Nam. 500 hội viên này của Hội nhà
văn Việt Nam có thể được thay bằng 500 hội viên khác,
song 50 triệu người đọc thì
không bãi đi để bầu mới nhanh như
vậy được. Nền văn học này cũng
đẻ ra một số tài năng và
những tác phẩm có thể xúc
động lòng người. Nhưng các tác giả
và tác phẩm của nó giống nhau, hoàn toàn không có cá tính,
đúng như Trần Dần đã nhận xét, năm 1955, về tập thơ
Việt Bắc của Tố Hữu, rằng thậm chí
những câu hay của Tố Hữu cũng không có
chữ ký riêng, có thể ký ở
dưới là Nguyễn Du, Tản Ðà, hay Ca Dao
đều được. Những người có
tên tuổi ở thời NVGP cũng không tránh
được điều đó. Một số bài thơ
của Lê Ðạt và Phùng Quán thuở
ấy có thể ký lộn cho nhau, sau này thì
Lê Ðạt tách hẳn ra để có
một chữ ký độc đáo cho riêng mình, và
lịch sử quả thật thích đùa khi
ông bị Trần Mạnh Hảo, một nhà thơ hiện thực xã hội
chủ nghĩa mạt kỳ phủ đầu, chính vì
đoạn sau này. Bên Kia Sông
Ðuống của Hoàng Cầm, hay
Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan
đi vào lòng người vì những lý
do khác, chứ không phải vì đạt tới cái mà
Trần Dần đòi hỏi, ngay từ
thuở ấy, rằng nhà thơ trước hết phải có
được cái chữ ký riêng của mình.
Ông cũng chua ngay rằng đương nhiên còn phải xem kỹ
cái chữ ký ấy nó như thế
nào, nhưng mức tối thiểu là
phải đạt được như vậy. Lịch sử
văn học Việt Nam nửa thế kỷ
qua cho thấy, cái tối thiểu mà
Trần Dần yêu cầu ấy đã hầu như
không đạt được. Cho nên phần lớn tác phẩm của
ông, mỗi dòng là mỗi riêng một cõi, càng lúc càng riêng,
riêng tới mức cực đoan, riêng tới mức bí
hiểm phải giải mã, phải cần
đến một từ điển Trần Dần, không có
cách nào khác là làm phận bản-thảo-nằm.
Ở ông là một bi kịch văn học lớn mà
cái bi kịch chính trị của NVGP chỉ
là một trong những bè đệm, còn
ở một số người khác thì
NVGP là sân khấu, thậm chí có
sự trình diễn của các vai nạn nhân, văn chương chỉ
đóng một vai rất phụ. Cho nên, nói về
ông bây giờ mà không qua cái nấc thang thứ
nhất kia cùng là tí ti minh oan, tí
ti phục hồi, tí ti thương cảm, thì
khác nào nhổ sơ sơ vài ngọn cỏ
cho sạch vài phân vách đá, nhưng
đằng sau đó là Ăng-co, để dùng lại một biểu tượng
mà ông ưa dùng. Bất hạnh lớn của Trần Dần là
NVGP, nhưng bất hạnh còn lớn hơn của
ông là ông đã quẳng gánh NVGP từ
lâu lại sau lưng, còn người
đời thì vẫn è lưng ra gánh mãi. Sự
nghiệp của ông không chấm dứt với năm 1958, mà
mở đầu từ đó, và đạt tới cao trào trong khoảng 15
năm, từ giữa những năm 70, nghĩa là
liên quan không nhỏ tới việc Sài Gòn thất thủ,
đến cuối những năm 80, khi
ông ngã bệnh.
Bi kịch
của Trần Dần là bi kịch của một nhà
cách tân, có lẽ là
nhà cách tân lớn nhất và
sâu sắc nhất trong văn học miền Bắc Việt Nam nửa thế
kỷ qua. Việc ông đi theo cuộc cách mạng của
Ðảng cộng sản cho đến NVGP là
việc dễ hiểu, bởi đôi bên khi
ấy cùng chung nhau một chữ cách: cách mạng, cách tân, cùng
chung nhau một ý tưởng đổi mới. Việc diễn ra sau
đó đối với ông, theo tôi, cũng là một tất yếu. Tôi
không cho rằng ông bị hiểu nhầm, mà
ông bị không hiểu. Không hiểu chứ không phải hiểu nhầm.
Hiểu nhầm còn chữa lại được, không hiểu thì khó thay
đổi hơn nhiều. Một người như thế sống
ở bất kỳ đâu cũng khó. Còn
ở một nơi mà tính đại chúng là
tiêu chuẩn tối thượng của văn chương nghệ
thuật, một nơi mà sự phục tùng tổ
chức, quyền uy, thế lực là
kim chỉ nam cho mọi hành vi văn chương thì
một người như thế phải bị
đày đọa, bị tẩy chay, hoặc nhẹ
nhất là bị bỏ qua. Trong văn học Việt Nam, tôi chưa biết
một trường hợp nào mà ham muốn sáng tạo và
cách tân quyết liệt như ở
Trần Dần. Nghĩa là ham muốn vượt qua, hoặc
ít nhất là khác đi với cái cũ, hoặc cái
đã trở thành cũ, ở bên ngoài mình
đã đành, lại còn liên tục tự
mới với chính mình, tự vượt qua mình, mà
lại làm điều ấy trong từng chi tiết, cho
đến tận nét chữ chẳng hạn.
Ông có 4 kiểu chữ hoàn toàn khác cách nhau: cho giai
đoạn đến NVGP những năm 50 là
một, giai đoạn ngắn sau đó,
đầu những năm 60 là hai, giai
đoạn đến đầu những năm 80 là
ba, từ đó đến nay tuy chung một kiểu chữ
là bốn, nhưng ngay trong một kiểu này cũng có
nhiều phát triển khác nhau, kèm theo một khoa chính tả
khác thường và một thư pháp, hay thư
họa rất đặc trưng Trần Dần. Chỉ
riêng điều có thể coi là nhỏ
nhặt trong cái khối khổng lồ
là ông - để dùng lại chữ
của Dương Tường - đã làm việc
đọc ông rất phức tạp, mà
lại càng không thể công bố
nhiều tác phẩm của ông ở
dạng in ấn bằng những con chữ
thông thường.
Trần
Dần đương nhiên là
khó hiểu. Nhưng ông nói về
sự khó hiểu một cách hết sức giản dị:
“Tất cả mọi giá trị Chân Thiện Mỹ
đều là khó hiểu.” Khi ông tuyên bố:
“Cái đèm đẹp giết chết cái
đẹp”, thì một câu sáng rõ
như vậy quả là tối tăm mù
mờ với những ai chưa bao giờ
nghĩ ngợi về cái “đèm đẹp”. Cái xinh xinh không thể
đẹp, ý này có thể của ai khác, có
thể từ tư duy trong tiếng nước ngoài, song vào tay Trần
Dần thì thành cách nói đặc biệt Trần Dần, nhanh, mạnh,
lột trần, độc đáo, không lặp lại ai và
không tự lặp, rất Việt và
rất hiện đại. Ðồng nghiệp của
ông yêu cách nói này thì ít, mà
sợ thì nhiều. Nguyễn Khải
đã tả về hai con mắt “hiếp
đáp thiên hạ” của Trần Dần. Không
ít người suốt đời hậm hực về
một lời phê thường cộc lốc nghiệt ngã
của ông. Song một nhận định phát ra từ
bóng tối và cõi im lặng của Trần Dần có
cái uy dũng mà người ta tuy hãi nhưng thèm. Ai chịu trận
được thì mang ơn ông mãi. Tôi
được ông ưu ái khi vừa mon men vào nghề, phấn khởi lắm,
nhưng những lời đe của ông sau này mới thực cho tôi những
bài học càng lâu càng ngấm.
Người
ta coi Trần Dần là lập dị. Nhưng trong một môi trường
mà chỉ riêng chiếc ba toong của cụ
Nguyễn chống trên vỉa hè Hà
Nội đã được coi là biểu tượng của khác thường, thì
sự lập dị của Trần Dần là
vượt ra mọi cách. Chúng ta có
thể tôn sùng kẻ đứng đầu một cách, nhưng kẻ
vượt ra mọi cách thì không có
chỗ đứng. Cho nên Trần Dần nằm. Thơ
ông là thơ nằm. Mọi bản thảo của
ông là bản thảo nằm. Hàng chục sổ
thơ của ông là sổ nằm, ông
đặt tên là sổ bụi, và khi hết sổ
phải dùng đến vở tự khâu, thì
đấy là vở bụi. Vả lại, khí
chất của Trần Dần là cái khí
chất không thuận với mọi cách, may ra
ông gần hơn cả, gần chứ không thuận, với cách thi trung
hữu quỷ, và tự gọi mình là
một thi tặc. Tôi chưa thấy ai trong lịch sử
thi ca Việt Nam dám như vậy,
đường hoàng như vậy: Thi tặc! Thơ
ca của chúng ta có hay thì cốt hay-mãi-ngàn-năm theo hướng
thánh thi, tiên thi, đạo thi, có
đẹp thì đẹp theo cách tròn
đầy nhã nhặn mà Trần Dần tuy ghi nhận nhưng không rung
động. Nếu ai hoảng sợ trước cái khái niệm thi tặc
ấy thì tốt nhất đừng đọc Trần Dần. Còn
đã quyết định đến với ông thì
xin đừng coi trọng quá những hành trang tinh thần mà
mình đương nhiên khuân theo, vì
Trần Dần thật lắm bất ngờ. Và
nhất là, ông sẽ giới thiệu một thứ
ngôn ngữ khác, một thứ tiếng Việt không chỉ
cho lỗ tai mà còn cho con mắt, không trói nghĩa
vào chữ, không bôi chữ vào chỗ
trống của vô nghĩa. Từ 1958
đến nay Trần Dần làm cái việc mà
ông gọi là “làm quốc ngữ”, trong bóng tối, cách bức
với những phong trào “giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt”
cứ thỉnh thoảng lại ồn ào dấy lên bên ngoài. Công trình
quốc ngữ của một cá nhân lẻ loi lặng lẽ như Trần
Dần hoàn toàn khác. Con chữ nào qua tay
ông là mang một cuộc đời mới. Những người xung quanh
ông, người nào cũng xin được, có khi trộm
được, ít nhất là một vài con chữ từ cái lò luyện
chữ của Trần Dần như vậy. Những chữ rất hiện
đại và đầy truyền thống. Cách
ông đối xử với ca dao chẳng hạn là cách của một người
biết yêu sao cho cả phía được yêu lẫn phía mình
đều lớn bổng lên, không phải cách
“yêu ai thì người đó nhỏ lại” như
ông đã từng phê rất đích
đáng một nhà thơ nổi tiếng. Là
những chữ rất hàn lâm uyên bác mà
cực nôm. Cái sướng nôm của
ông, nôm hiện đại của “1 bát sẹo 1 lẹo vú
1 bú đít 1 lít nách”, lây mạnh sang những người xung
quanh, thành những ca vô cùng
đặc sắc, thành một thứ tiếng Việt hiện
đại và đầy phiêu lưu kỳ
thú. Ông thậm duy mỹ mà sâu xa và
có một giác quan không thể đánh lừa cho mọi giá
trị thực. Ðiều đó kéo theo sự
trân trọng và ngưỡng mộ, rất bất chấp, rất hồn nhiên
của ông trước những tài năng và
nhân cách thật. Ông đã nâng niu thơ
Ðặng Ðình Hưng như thơ ruột, dù
quan hệ đôi bên không phải lúc nào cũng
êm. Ðồng thời, sự thẳng thắn
đến phũ phàng của ông trước những thứ
của rởm cũng không chừa bạn bè
thân thích. Trước những con chữ, lòng
ông khăng khăng trong sạch. Chỉ
có điều, tất cả những thứ
ấy đóng kín trước một số
đông, một số rất đông, không phải của riêng thời NVGP,
mà cả bây giờ và sẽ rất lâu sau này vẫn thế. Bây giờ,
nếu một phần di cảo của ông có
được đưa ra nghiên cứu và
sử dụng, cũng chỉ đếm được trên
đầu ngón tay số người có thể
đọc xuyên qua được những trang bản thảo
ấy. Sau ba mươi lăm năm, một trong hơn ba chục tác phẩm
của Trần Dần mới ra mắt người
đọc, tập thơ-tiểu thuyết
Cổng Tỉnh, và được nhận giải thưởng của Hội
Nhà Văn Việt Nam. Sự công nhận muộn mằn này dừng lại
ở mức một cử chỉ thiện chí, với một quá
khứ oan khiên, với một nhà
thơ lớn khi ấy đã gần đất xa trời. Song nó
không mang lại cho Trần Dần nhiều người
đọc hơn. Khi cái lưỡi của
đám đông đã hoàn toàn thoái hóa thì
cao lương mỹ vị bày ra cho ai? Một phần ba thế
kỷ văn vần quốc doanh, văn xuôi mậu dịch trên môi và
trong lòng người đọc Việt Nam
đã khiến ít ai vượt qua chỉ
cái tựa đề Cổng Tỉnh. Tôi mở
trang đầu, đọc những dòng
đầu mạnh mẽ mộc mạc:
qua những
dòng bồng bột lạ lẫm:
những dòng
ngọt lịm:
những dòng
Trần Dần huyền thoại:
những dòng
tha thiết:
những dòng
khinh bạc quay quắt:
rồi lại
ngọt đắng:
Chỗ
nào ông cũng thổi một sự
sống khác thường vào những con chữ, chỗ
nào cũng dành cho ta một bất ngờ. Biết bao giờ
số đông người đọc Việt Nam mới dọn lòng, dành cho
tài năng ghồ ghề jờ joạcx
này một chỗ?
Số
phận của Trần Dần là
số phận hoàn toàn cô
đơn và trong bóng tối theo mọi nghĩa của một người
dốc hết mình vào thửa ruộng thử
nghiệm của văn học, đặc biệt là
của thi ca, một người, để dùng lại chữ
của NVGP mà chắc sau này ông cho là
mauvais gout lắm, moi tim moi óc làm thơ, một Tư
Mã - như tên ông đặt cho mình và
bạn bè - suốt nửa thế kỷ
không chịu lùi một ly chữ,
để làm cái việc mà ông gọi là
thồ thơ tự xứ này lên. Một người
đi suốt ván chiêm bao của những cái bị
nợ và tự nợ, đánh suốt một
ván đời với cái biết và cái chưa biết.
Ông nói rằng, cái biết là nghĩa, cái chưa biết là
chữ. Làm câu châm ngôn hay như
Khổng Tử là chưa phải thơ, nghịch lý
như Lão Tử chưa phải thơ. Nhảy qua bóng mình mới là
thơ. Mình chưa hiểu thơ vì khó
mà nhảy qua bóng mình. Tôi không dám nói
ông đã thành công trong bao nhiêu mùa thử
nghiệm của mình. Chỉ biết rằng, những ai may mắn
đến lấy một hạt giống ở
ông, rồi đem về đất của chính mình,
đổ sức của chính mình vào
đó thì ắt là thành công, trong những trường hợp hiếm
hoi như Ðặng Ðình Hưng thì
là một thành công lớn. Còn nếu không cũng
được một mùa, theo chữ của
ông, là mùa sạch.
Trần
Dần từng nói, “tôi sốt ruột
đợi lớp trẻ lớn lên để chôn chúng tôi, như
chúng tôi đã chôn tiền chiến.”
Nhưng trong một sổ bụi ông lại tự
hỏi: lớp trẻ liệu có còn
được một cơ hội mấy chục năm quốc nạn như
mình không để làm cái việc
ấy? Ông đã ngã bệnh nhiều năm trước khi qua
đời, có lẽ cũng linh cảm nhưng không còn
đủ thời gian để nhìn thấy những hình dạng mới của
quốc nạn. Văn chương bây giờ
có vẻ như chưa cần đày đọa
đã ngắc ngoải tự hủy, chưa sinh ra
đã kề huyệt. Thì chôn ai?
Tôi
thuộc lớp trẻ, nợ ở
ông một lòng ưu ái, mang theo lời
đúc kết rất Trần Dần: nhân cách của nhà
văn chính là văn cách của anh ta. Tối thiểu tôi phải có
được một văn cách.
(Đăng lần đầu trên tạp chí
Văn Học, California, 1997).