35 năm đã qua, tính từ
30/4/1975, và trước đó là 30 năm trong chiến tranh, chúng ta đã có một
nền văn học viết về chiến tranh của một đội ngũ người viết - dẫu chuyên
hoặc không chuyên, đều có chung một tâm nguyện là viết sao cho vừa chân
thực, vừa có đóng góp tích cực cho cuộc chiến đấu đòi hỏi tận cùng những
nỗ lực và hy sinh của toàn dân tộc. Và với Nhật ký Đặng Thùy Trâm
xuất hiện vào giữa 2005, được đón nhận rất nồng nhiệt, không chỉ ở
trong nước mà là cả nhiều nơi trên thế giới, chúng ta lại có dịp thử
nghiệm lại tính chân thực của nền văn học ấy; một thử nghiệm cho thấy độ
tin cậy cao nhất về những gì đã được viết; và cả độ tin cậy về sự đón
nhận, sự bàn luận và đánh giá của các thế hệ đến sau khi chiến tranh đã
lùi vào lịch sử.

Đây là cuốn nhật ký người viết chỉ
viết cho riêng mình, và giá có một mong mỏi xa xôi nếu mình còn sống,
hoặc nếu cuốn nhật ký còn lưu giữ được thì cũng chỉ là cho người thân
của mình. Như vậy có nghĩa là nó đã được viết với sự trung thực tuyệt
đối với bản thân, và tuyệt không bị chi phối bởi bất cứ áp lực nào khác -
áp lực của sự in ra, sự phổ biến để có một lượng người đọc nào đấy
ngoài bản thân mình. Thế nhưng khi cuốn nhật ký đã trở thành cuốn sách
cho công chúng rộng rãi, thì những gì được ghi trong đó bỗng trở nên tấm
gương trung thực cho cả một thời, của cả một thế hệ.
Với Nhật ký Đặng Thùy Trâm -
đó là chân dung một con người có đủ tầm vóc một nữ anh hùng trong lực
hấp dẫn tuyệt vời của nó - ở lý tưởng sống, ở các quan hệ sống, và ở một
thế giới tâm hồn tôi cho là chưa có một hình tượng nào trong văn học
viết về chiến tranh của ta đạt được. Và cái đẹp ở chị, cái cao thượng ở
chị, cái tuyệt vời ở chị là cái thực 100%, cho đến tận ngày chị hy sinh.
Và sau khi chị hy sinh, sau khoảng lặng 30 năm chị lại vẫn sống tiếp
một cuộc sống thiêng liêng trong lòng bao nhiêu người sống. Con người
ấy, ở tuổi ngoài 25, với những gì chị để lại qua nhật ký, đã làm vinh
quang cho Đảng khi chị nói đến cái nguyện vọng luôn luôn bị cản trở mà
không sớm được kết nạp - trong một thư gửi về gia đình: “Ai đâu có thể
vì tiền tài, danh vọng mà ra đi, còn con, ngoài Đảng chắc không ai có
thể làm con xa với gia đình!”. Chị cũng đem lại vinh quang cho nhà
trường xã hội chủ nghĩa, nơi đã cho chị một khát vọng cống hiến để vào
chiến trường. Chị cũng đã tôn vinh chính cái chất gọi là “tts” (tiểu tư
sản) mà một thời rất dài bị kỳ thị; và chính chị từng là nạn nhân, nó là
những giây phút chị mở đài để được gội trong các giai điệu nhạc cổ
điển; được ngắm trăng trong yên ắng tuyệt đối của bệnh viện sau một trận
càn; được trở về với kỷ niệm hậu phương, trong đó có một tình yêu chị
muốn quên đi nhưng không sao quên được; được mơ về Hà Nội - một thời
tuổi trẻ... Và nhất là được tự do trong một nỗi cô đơn, và buồn - những
nỗi buồn làm thanh sạch và tôn cao con người. Để từ đó ta hiểu vì sao mà
những “nỗi buồn chiến tranh” đã trở thành một nhu cầu tự nhiên và cần
thiết ở con người, trong và sau khi chiến tranh đã kết thúc, dẫu với bất
cứ khoảng cách nào của thời gian.
*
Ba mươi năm sau chiến tranh đủ cho mọi ký ức trở nên xa vời. Thế mà với Nhật ký Đặng Thùy Trâm
lại có một dịp cho ta trở lại một thời đạn bom, tận cùng hy sinh, tận
cùng gian khổ, nhưng cũng tận cùng đằm thắm tình đời và tình người.
Cũng là một dịp cho thấy để có hiện
thực hôm nay, dân tộc đã đi qua bao mất mát không có gì bù đắp được. Bởi
với cuốn nhật ký, ngẫu nhiên mà có, may mắn mà có, ta mới có dịp soi
vào sự sống tuyệt đẹp ở một con người như Đặng Thùy Trâm. Nhưng còn biết
bao người, hàng vạn, hàng triệu người khác đã ngã xuống mà không có gì
để lại, cũng trong những tư thế không kém anh hùng như Thùy Trâm, để trở
thành vô danh - một vô danh vĩ đại! Cũng như Thùy đã trở nên vô danh 30
năm. Còn họ là vô danh vĩnh viễn.
Luận đề này thật xót xa, nhưng không thể không nói đến: Chiến tranh đã cướp đi của dân tộc những con người ưu tú nhất.
Cùng với cuốn nhật ký ta lại có một cơ
hội suy tôn chức năng và giá trị của văn chương, qua đóng góp của một
tên tuổi mới, không “chuyên nghiệp”, chỉ ngẫu nhiên ghé qua, mà mở ra
biết bao chân trời cho sự nhận thức cuộc sống trong chiều sâu thăm thẳm
của nó, và cho sự rung động kết nối giữa con người với con người, không
phải chỉ sau 30 năm trong khoảng lặng, mà rồi sẽ tỏa sáng sự sống bất
diệt của nó, trong vĩnh viễn của thời gian.
GS Phong Lê