NhaNam.vn
Đang tải dữ liệu...

Trang chủ
Tin tức
Tác giả
Phát hành
Liên hệ
Liên kết
Giới thiệu
Newsletter
Download
Trang chủ  >  Văn học Việt Nam  >  Hồi ký / Phê Bình / Tiểu luận
NGƯỜI LÍNH THUỘC ĐỊA NAM KỲ (1861 - 1945) 
Tác giả:Tạ Chí Đại Trường
Nhà xuất bản:Tri Thức
Số trang:382
Kích thước:14 x 20,5 cm
Giá bìa:72.000  VND
Ngày phát hành:51011
Đánh giá của bạn đọc

Số người đánh giá: 3

Câu chuyện bắt đầu khi người Pháp khởi sự xâm chiếm và đặt ách bình định lên vùng đất phương Nam rộng lớn. Đội quân viễn chinh nhanh chóng lợi dụng ngay cơ chế binh dịch sẵn có và nguồn nhân lực tại chỗ để sẻ bớt gánh nặng máu xương. Đám người có xuất thân khác nhau đến kỳ lạ nay được chiêu mộ thành một đội quân chính quy dưới quyền chỉ huy của khung cán bộ Pháp. Từ đây họ, với khẩu súng dài lê thê và cái chóp đồng loang loáng trên mũ sẽ trở thành một biểu tượng quyền lực quân sự quan trọng một thời . . .

 

Nguyên là bản thảo luận án tiến sĩ Sử học tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1975, Người lính thuộc địa Nam kỳ  tập trung soi rọi một mảng lịch sử quan trọng từng bị quên lãng. Cùng một cung cách khảo cứu công phu như ở Lịch sử nội chiến, trong Người lính thuộc địa Nam kỳ, Tạ Chí Đại Trường mang đến nhiều kiến giải sâu xa về mối quan hệ đan cài phức tạp giữa các phe phái dân sự-quân sự cầm quyền tại một xứ thuộc địa, giữa lính bản xứ và sĩ quan chính quốc, vị trí của người lính trong hoàn cảnh mới qua số phận những nhân vật nổi bật như Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc... và cả những viên cai, viên đội nay đã thành vô danh dưới lớp bụi thời gian.

***

Đôi nét về tác giả Tạ Chí Đại Trường


 

Nhà viết sử Tạ Chí Đại Trường, quê gốc Bình Định, sinh ở Nha Trang. Hiện sống tại  Westminster, California, Hoa Kỳ.

 

Tạ Chí là họ và của thế thứ, Đại Trường là ghép của hai địa danh ở tỉnh Khánh Hoà: Đại Lãnh và Trường Giang (sông Cái). 

***

Trích Người lính thuộc địa Nam Kỳ

CHƯƠNG DẪN NHẬP

VẤN ĐỀ “LÍNH” VÀ CƠ CHẾ
THUỘC ĐỊA NAM KỲ

Trong ngôn ngữ thông thường, chữ “lính” mang một dấu vết ác ý coi nhẹ, nếu không nói là miệt thị. “Lính” chỉ cấp bậc cuối cùng của tập thể võ trang trong tổ chức giữ gìn an ninh, bảo vệ một hệ thống quyền hành. Từ đó, danh xưng mở rộng chỉ chung cả tổ chức quân sự mà người ta thường giấu sự khinh thường dưới một bề ngoài nể sợ: đi lính, ở lính, (đồ) lính tráng...

Để tránh ý thức miệt thị đó và muốn khỏa lấp một truyền thống không tốt đẹp, người ta thay đổi danh xưng cho hợp với địa vị ngày càng quan trọng của quân đội trong thời mới. Và cũng đã có sẵn một lề lối đổi thay đem lại một bề ngoài hào nhoáng theo ý muốn: từ xưa, các từ ngữ Hán Việt bao giờ cũng mang một hình thức trịnh trọng, nghiêm túc đủ để thay thế các chữ “nôm na” có giá trị thấp kém. Cho nên, bây giờ người ta lại thường nói, thường dùng các từ ngữ, thành ngữ “binh sĩ”, “chiến sĩ”, “gia nhập quân đội”, “nhập ngũ”, “tại ngũ”, “giải ngũ”...

Nhưng thực ra chữ và nghĩa vẫn đi đôi với nhau, và “nghĩa” nói ở đây là nội dung xã hội thực sự của cơ chế mà “chữ” biểu hiện. Một từ ngữ được vay mượn tuy cũ ở nơi xuất phát nhưng mới ở nơi sử dụng, do đó có thể hi vọng mang lại nội dung mới cho sự vật, cơ chế cũ mà người ta định khoác cho nó. Nhưng phải coi chừng, nếu không có đổi mới thực sự thì nội dung tàn tệ cũ sẽ làm suy sụp, tan biến nhanh chóng các mong muốn ban đầu. Chữ “quân” trong quá khứ cũng đã từng bị lôi kéo theo khuynh hướng bại liệt đó: người ta thường nói “quân” côn đồ, ăn cướp, “đồ quân” đầu đường xó chợ, lưu manh

Chữ “ lính” (Nôm viết , âm Hán Việt: lánh) có dấu vết thăng trầm lâu dài, xưa cũ và phức tạp hơn, mà quá trình chuyển hoá còn được nhận thấy qua chứng cớ lịch sử.

Sổ đinh từ đầu đời Hồng Đức (1470) chia dân làm 6 hạng: tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng. Nhiều tiêu chuẩn lẫn lộn trong cách sắp xếp này, nhưng rõ ràng là bọn dân nghèo (cố hạng, cùng hạng) không được tham gia vào việc phân chia binh vụ. Lệnh bắt quân dịch chỉ nói tới 3 hạng lánh tráng hạng, quân hạng, dân hạng: nhà nào có 3 người thì chia đều cho 3 hạng; có 4 người thì dân được 2; có 5, 6 người trở lên thì nhà nước lợi được 2 lánh. Lệnh năm Vĩnh Thọ thứ nhất (1653) bắt binh dịch ở Thanh Hoa, Nghệ An cũng nói đến 2 hạng lánh, quân[1] như vậy.

Quân có vẻ như là hạng trừ bị vì đã có trường hợp ghi rõ từ lệnh nói trên “nếu cha thuộc hạng lánh còn làm việc theo quân ngũ, thì con được xếp vào hạng quân”. Được gọi vào quân ngũ không phải là những kẻ thất thế, nghèo đói như đã thấy, mà là những người có đủ phương tiện sinh sống (“hữu tài lực giả”). Truyền thống này có từ xưa và kéo dài đến cuối đời Nguyễn để cho người Pháp còn bắt chước những năm đầu chiếm đóng: năm Kiến Trung thứ tư (1228), con cháu quan tước, tập ấm đi làm quan, còn những người giàu có, khỏe mạnh không có chức tước thì đời đời làm lính; năm Tự Đức thứ 6 (1852) lệnh nói rõ việc trưng binh dành cho nhà có nhiều dân đinh, ai bắt nhà nghèo thế vào sẽ bị tội[2]. Như vậy, khác với ý nghĩa bây giờ, từ ngữ lính nguyên chỉ một hạng người thuộc thành phần ưu tú của xã hội (giàu có, khỏe mạnh riêng biệt), chỉ thua kém có bậc quyền quý mà thôi - và lẽ tất nhiên từ sự thua kém đó mà thành hạng người phục vụ đời đời cho những người này.

Nhưng dù sao chữ “lính” cũng đã được sử dụng trong một thời gian lâu dài theo một ý nghĩa thấp kém, cho nên đến thời Pháp thuộc nó phải tiếp tục mang danh hiệu của cấp bậc thấp nhất trong hệ thống quân đội mới: “lính” là cấp binh nhì. Nhưng “lính” còn được hiểu như cả tập hợp các đội quân: lính “gạc”, lính tập, lính pháo thủ, lính thuỷ, lính thợ... Và vì lẽ đó, trước khi chen vào phán đoán giá trị về tập thể này, ta vẫn có thể dùng chữ “lính” để chỉ các đội quân bản xứ Nam Kỳ trong thời Pháp thuộc.

Vấn đề đặt ra là nên khảo sát loại lính nào để thấy được tính chất tiêu biểu cho lực lượng quân đội bản xứ ở Nam Kỳ?

Tất nhiên phải kể đầu tiên là các Trung đoàn Lính tập Annam (Régiment des Tirailleurs Annamites, RTA), các Đại đội Công binh, Lính thợ, vì trên danh xưng của các đơn vị này hoặc có tính chất bản xứ rõ rệt, hoặc có ngay chữ xác định. Tính chất bản xứ khiến chúng ta lưu ý lựa chọn giữa 2 đơn vị cùng thoát thai từ Hải quân Khinh chiến của người Pháp: các Trung đoàn Pháo thủ (Régiment d’Artillerie Coloniale - RAC) và Trung đoàn Khinh chiến Thuộc địa (Régiment d’Infanterie Coloniale - RIC). Pháo binh được nói tới mà các đội Khinh chiến Thuộc địa để sang bên vì lý do nằm ngay trong sự sắp xếp của người Pháp: các Nghị định trưng binh bản xứ có phần chia người cung ứng cho Trung đoàn Lính tập, Pháo thủ, Đại đội Công binh, Lính thợ mà lại không thấy dành người nào cho Trung đoàn Khinh chiến. Nhưng tính chất bản xứ lại nhiều nhất ở Trung đoàn Lính tập, hợp với một chừng mực ý muốn ghìm giữ dân chúng của người cầm quyền thuộc địa, nên Trung đoàn này được ta lưu ý nhiều nhất.

Cũng nên kể thêm một lý do quan trọng từ nguồn gốc tài liệu: các văn kiện quân sự ngày thường vốn đã khép kín đối với người ngoài, nay lại nằm trong các Văn khố quân, dân sự ở Pháp, thật khó với tới đối với người khảo sát từ cựu thuộc địa. Nhưng một số tài liệu về lính tập còn thấy ở Việt Nam càng chứng tỏ được tính chất bản xứ của đơn vị và củng cố thêm lập trường của chúng ta.

Thuộc cơ chế bảo an ở các xứ Đông Dương khác, có loại lính khố xanh tiếp tay với lính khố đỏ: lính tập. Nhưng ở Nam Kỳ, lính bảo an địa phương lại mang danh xưng khác, với thể chế khác. Dù là Vệ binh Bản xứ, Biền binh Thủ hộ Quản hạt và Địa hạt, lính Thủ hộ, lính “gạc”, Vệ binh Dân sự Địa phương, gọi chung một tiếng từ đầu là lính mã tà, loại lính này từ khi thành lập đều được đặt vào ngạch dân sự, thuộc dưới quyền các Tham biện Chủ tỉnh. Tính chất dân sự này trước khi làm ta phân vân, đã làm bối rối những người cầm quyền ở Nam Kỳ không ít: mang ngạch hành chính, họ theo những điều kiện tuyển mộ, phục vụ, hưu bổng như người của các công sở trong khi nhiệm vụ của họ là một nhiệm vụ của quân lực. Nhưng chính tham vọng quá đáng của giới hành chính Nam Kỳ đã đưa họ vào chỗ lúng túng: chê mã tà yếu ớt, muốn mã tà thành một lực lượng quân sự như lực lượng lính khố xanh ở các xứ Đông Dương khác mà lại không muốn quyền điều khiển lực lượng này rời khỏi tay mình thì làm sao ghép mã tà vào khuôn khổ quân sự cho được?

Sự tạo lập có nguyên do là truyền thống tranh giành quyền bính giữa hai giới quân sự, dân sự Pháp ở thuộc địa. Nhưng bản chất chế độ cũng là nguyên do pháp lý đáng kể. Là một thuộc địa chính thức với dân ở đó trên danh nghĩa đều là dân Pháp (sujet français) thì một tổ chức dân binh (milice) đương nhiên phải mang danh xưng Công dân binh: ý nghĩa Công dân Vệ binh có nguyên do từ đó. Và cũng một phần từ đó nhiệm vụ buồn nản của loại lính này được quy định: canh gác công sở, giữ tù, coi tù làm tạp dịch, giải tù... và có thời, như khoảng 1884-1909, họ được xếp lẫn lộn với dân thắp đèn đường, dân chèo ghe...

 

[...]



[1]. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Lưỡng Thần Cao Nãi Quang dịch (Trường luật Khoa Đại học xuất bản, Sài Gòn, 1957), t. 379.

 

[2]. Sđd, t. 377; Đại Nam điển lệ toát yếu, Nguyễn Sĩ Giác dịch (Trường luật Khoa Đại học xuất bản, Sài Gòn, 1962), t. 453.

Đánh giá tác phẩm
Nhận xét/Đánh giá
NGƯỜI ĐỌC SÁCH

Cuốn sách như một bộ bách khoa toàn thư độc đáo và cuốn hút với sức hấp dẫn của văn chương hạng nhất này đã ra đời từ năm 1980, song nếu tính theo thang thời gian vũ trụ thì nó chỉ vừa được viết xong, đúng như tinh thần một câu trong sách này - “Vũ trụ chỉ mới được khám phá ngày hôm qua” (tr.571).

Thăm dò
Bạn mua sách dựa trên kinh nghiệm nào?
 
Trang chủTin tứcTác giảPhát hànhLiên hệLiên kếtGiới thiệuNewsletterDownload