NhaNam.vn
Đang tải dữ liệu...

Trang chủ
Tin tức
Tác giả
Phát hành
Liên hệ
Liên kết
Giới thiệu
Newsletter
Download
Trang chủ  >  Văn Học Nước Ngoài  >  Đương đại
1Q84 (Sắp xuất bản) 
Tác giả:Haruki Murakami
Dịch giả:Lục Hương
NXB liên kết:Hội Nhà Văn
Số trang:468
Kích thước:15,5x24 cm
Ngày phát hành:2012
Đánh giá của bạn đọc

Số người đánh giá: 9

Cuốn hút. 1Q84 là một tiểu thuyết lớn theo mọi nghĩa. Độc giả một khi đã sa chân vào dòng chảy thời gian của nó thì khó lòng bước lên bờ.”

— Sherryl Connelly, New York Daily News

***

Sơ lược nội dung tác phẩm

Aomame đang sống ở năm 1984. Bản Sinfonietta của Leoš Janáček phát ra từ đài FM trong chiếc taxi trên đường cao tốc thủ đô khiến nàng bắt đầu nhận thấy có gì đó bất thường trong thế giới thực tại. Nàng phát hiện ra sự tồn tại của một thế giới không phải thế giới này bên cạnh thế giới này. Với rất nhiều câu hỏi chưa lời giải cho những bất thường đang diễn ra xung quanh , nàng đặt tên cho năm mình đang sống là 1Q84, “Q” là chữ cái đầu của từ “Question”.

Tengo cũng sống ở năm 1984. Anh dạy toán tại một trường dự bị. Ôm mộng văn chương, có thừa tài năng nhưng mặc cảm quá khứ về người mẹ như một tảng đá khổng lồ đang chặn đứng dòng năng lượng trong anh khiến anh vẫn mãi chỉ là một kẻ bồi bút vô danh. Tuy nhiên một kế hoạch đầy mạo hiểm của Komatsu, biên tập viên lão luyện của tạp chí văn nghệ, đã đẩy anh vào một rắc rối ghê gớm. Chính rắc rối ấy sẽ đưa Tengo gặp lại người bạn gái thời tiểu học vẫn luôn ám ảnh anh.

Với đầy đủ hiện thực lẫn huyền ảo, Murakami đưa ta lạc vào một thế giới chuyện kể quá đỗi hấp dẫn trong 1Q84. Cuốn tiểu thuyết gồm các chương xen kẽ về Aomame và Tengo. Khi đọc xong về Aomame, bạn chắc chắn sẽ muốn tiếp tục với Tengo và ngược lại. Một tác phẩm xứng đáng với ba năm chờ đợi của những độc giả yêu mến Murakami.

***

Đôi nét về tác giả

Haruki Murakami, nhà văn Nhật Bản lừng danh, là tác giả nhiều tiểu thuyết thuộc hàng bán chạy nhất thế giới đồng thời nhận được sự đánh giá cao của giới phê bình nghiêm túc, “hàn lâm”. Nhiều tác phẩm của ông đã dịch ra tiếng Việt và được người đọc Việt Nam ưa thích, như Rừng Na Uy, Biên niên ký Chim vặn dây cót, Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời, Kafka bên bờ biển, Người tình Sputnik, Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Cuộc săn cừu hoang, Nhảy nhảy nhảy…

***

Lời khen tặng của báo chí

“Murakami giống như một nhà ảo thuật đang diễn giải những gì mình thực hiện trong lúc biểu diễn song vẫn khiến người ta tin rằng ông sở hữu một sức mạnh siêu nhiên… Trong khi bất cứ ai cũng có thể  kể một câu chuyện giống như một giấc mơ, ông là một trong số ít nghệ sĩ có thể khiến chúng ta thấy mình thực sự đang mơ, giống như với tiểu thuyết này.

— The New York Times Book Review

1Q84 là một trong những cuốn sách nhanh chóng biến mất khỏi tay bạn, lôi bạn vào sự huyền bí của nó với một tốc độ và kỹ năng khiến bạn chẳng thể nhận ra rằng nhiều giờ đã trôi qua và hàng núi trang sách đã bị ngốn sạch ...”

— Rob Brunner, Entertainment Weekly


***
Trích đoạn tác phẩm: 

(Đoạn trích này lấy từ bản thảo chưa qua khâu biên tập cuối nên có thể sẽ có khác biệt với bản in sau khi sách xuất bản)



 Đây là thế giới của Barnum và Bailey,

Tất thảy đều tột cùng giả dối

Nhưng giả dối cũng sẽ thành sự thật

Nếu như em tin vào anh

It’s only a paper moon

                                                          (E.Y.Harburg & Harold Arlen)

***




CHƯƠNG 1: AOMAME

Đừng bị vẻ bề ngoài đánh lừa

Radio trong xe taxi đang phát chương trình âm nhạc cổ điển trên sóng FM. Đó là bản Sinfonietta của Leoš Janáček. Ngồi nghe trong taxi đang bị dòng xe cộ chật ních bao vây thì có vẻ không được thích hợp cho lắm. Bác tài hình như cũng không nhiệt tình thưởng thức âm nhạc. Bác tài tuổi trung niên, tựa hồ một ngư phủ lão luyện đứng nơi mũi thuyền đang cố tìm điểm hợp lưu của con nước triều mang theo điềm dữ, lặng lẽ quan sát hàng xe dài dằng dặc phía trước. Aomame ngả hẳn người ra lưng ghế, khép hờ hai mắt nghe nhạc.

Trên đời này liệu có bao nhiêu người chỉ cần nghe một đoạn đầu đã có thể nói ngay đó là bản Sinfonietta của Janáček? E rằng con số ấy hẳn phải nằm giữa “ít vô cùng” và “gần như không có”. Nhưng chẳng hiểu vì sao Aomame lại làm được.

Janáček sáng tác bản giao hưởng dành cho dàn nhạc nhỏ này vào năm 1926, khúc dạo đầu vốn là đoạn kèn đồng cổ động cho một kỳ đại hội thể thao nào đó. Aomame mường tượng ra hình ảnh nước cộng hòa Tiệp Khắc vào thời điểm năm 1926: Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc, người dân cuối cùng cũng được giải phóng khỏi ách thống trị dài lâu của vương triều Habsburg, mọi người tụ tập trong quán cà phê thỏa sức uống bia Pilsner, sản xuất ra những khẩu súng máy nhẹ bỗng và đẹp đẽ, tận tình hưởng thụ khoảng thời gian hòa bình ngắn ngủi ở Trung Âu khi ấy. Hai năm trước, Franz Kafka đã qua đời trong chán nản. Không bao lâu sau, Hitler từ xó xỉnh nào đó đột ngột xuất hiện, thôn tính cả đất nước nhỏ bé xinh đẹp này, nhưng vào thời điểm ấy không một ai biết được điều tồi tệ sắp xảy ra. Có lẽ, mệnh đề quan trọng nhất mà lịch sử cho nhân loại thấy chính là “Vào thời điểm ấy, không ai có thể biết được tương lai sẽ xảy ra chuyện gì.” Aomame vừa nghe nhạc vừa tưởng tượng đến ngọn gió nhẹ nhàng ấm áp thổi qua bình nguyên Bohemia, không ngừng nghĩ đến những trắc trở của lịch sử.

Năm 1926, Thiên hoàng Taisho băng hà, niên hiệu được đổi thành Showa. Ở Nhật Bản, một thời đại tối tăm, tồi tệ sắp sửa mở màn. Khúc nhạc xen kẽ ngắn ngủi của chủ nghĩa hiện đại và nền dân chủ cuối cùng cũng kết thúc, chủ nghĩa phát xít bắt đầu nổi lên.

Cũng như thể thao, lịch sử là một trong những sở thích của Aomame. Nàng hầu như không đọc tiểu thuyết, nhưng nếu là sách về lịch sử thì nàng đã đọc nhiều vô kể. Điều khiến nàng cảm thấy hứng thú với lịch sử là, tất cả sự việc về cơ bản đều kết nối với những ngày tháng và địa điểm xác định. Đối với nàng, việc ghi nhớ ngày tháng lịch sử không phải chuyện khó khăn gì. Dù không thuộc lòng những con số đó, song chỉ cần nắm được mối quan hệ trước sau của các sự kiện lịch sử, ngày tháng sẽ tự động hiện lên trong trí óc. Thời cấp II và cấp III, điểm thi môn lịch sử của Aomame lúc nào cũng cao nhất lớp. Mỗi lần thấy người khác gặp khó khăn khi ghi nhớ các mốc lịch sử, Aomame đều lấy làm khó hiểu. Sao chuyện đơn giản như vậy mà cũng không làm được nhỉ?

Aomame là họ thật của nàng. Ông nội nàng là người tỉnh Fukushima, ở cái nơi chẳng biết nên gọi là thị trấn nhỏ hay ngôi làng nhỏ vùng núi ấy, nghe nói đúng là có mấy nhà họ Aomame thật. Nhưng nàng chưa đến đó bao giờ. Từ trước khi nàng sinh ra, cha nàng đã cắt đứt quan hệ với ông bà. Phía nhà mẹ nàng cũng vậy. Vì thế, Aomame chưa một lần gặp ông bà nội cũng như ông bà ngoại. Nàng hầu như không đi du lịch, nhưng thi thoảng cũng có cơ hội đi đây đi đó, đã thành thói quen, lần nào nàng cũng lật tìm trong cuốn danh bạ điện thoại để ở khách sạn, xem có nhà nào họ Aomame hay không. Nhưng cho đến giờ nàng vẫn chưa phát hiện ra người nào họ Aomame ở bất cứ thành phố hay thị trấn nào nàng từng ghé chân. Mỗi lần như vậy, nàng đều có cảm giác như mình là một kẻ phiêu du cô độc, trôi giạt giữa đại dương mênh mông.

Lúc nào nàng cũng cảm thấy việc xưng tên thật là phiền phức. Mỗi lần nàng nói ra tên mình, người đối diện liền nhìn nàng chằm chằm bằng ánh mắt kỳ quái hoặc hết sức ngờ vực. Cô Aomame(1) Đúng vậy. Đậu Xanh. Thời còn làm ở công ty, lúc nào cũng phải kè kè mang theo danh thiếp cho nên càng phiền phức hơn. Lúc đưa danh thiếp ra, đối phương nhận lấy rồi chăm chú nhìn trong giây lát, cứ như là bất ngờ nhận được một mẩu cáo phó vậy. Khi nàng xưng tên qua điện thoại, có lúc người ở bên kia đầu dây còn bật cười hinh hích. Những khi đi làm thủ tục ở cơ quan nhà nước hoặc đợi khám ở phòng chờ bệnh viện, lúc tên nàng được gọi đến, mọi người đều sẽ ngẩng đầu lên, muốn nhìn thử xem cái người mang họ Aomame này rốt cuộc mặt mũi ra làm sao.

Thi thoảng lại có người gọi lầm tên nàng thành “Cô Edamame” (Đậu nành). Cũng có khi nàng bị gọi là “Cô Soramame” (Đậu tằm). Mỗi lần như thế, Aomame đều mất công đính chính: “Không, không phải là Edamame (hoặc Soramame), mà là Aomame. Tuy là rất giống nhau, nhưng không phải vậy đâu.” Đối phương nghe vậy lại cười gượng gạo rồi xin lỗi, nói: “Ôi chà chà, cái họ này hiếm gặp thật đấy.” Trong ba mươi năm cuộc đời mình, không hiểu nàng đã nghe bao nhiêu lần những câu nói kiểu như vậy. Không biết đã bao nhiêu lần nàng bị người ta trêu đùa vì cái họ này của mình. Nếu sinh ra không mang họ này, đời mình có lẽ đã khác nhiều. Nếu mang những cái họ phổ biến đâu đâu cũng thấy, như là Sato, Tanaka hay Suzuki gì gì đó... có lẽ cuộc đời mình sẽ dễ thở hơn, có thể nhìn ngắm thế giới này bằng ánh mắt bao dung hơn. Có lẽ.

Aomame nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng nhạc, để âm thanh tuyệt mỹ của dàn hợp tấu khí nhạc thấm vào tâm tưởng. Đột nhiên nàng ý thức được một chuyện: nếu xét về radio trên xe taxi thì chất lượng âm thanh này dường như quá tốt. Âm lượng bật nhỏ, nhỏ lắm, nhưng âm thanh sâu, nghe rõ được cả các âm bồi. Nàng mở mắt, nhổm người ra phía trước, nhìn dàn âm thanh lập thể gắn trên bảng điều khiển. Cả dàn máy đều một màu đen tuyền, đang tự hào ánh lên những tia sáng diễm lệ. Tuy không thấy rõ tên hãng chế tạo, nhưng chỉ cần nhìn vẻ bề ngoài cũng biết là hàng chất lượng cao. Cùng với rất nhiều nút vặn, những con số màu xanh tao nhã hiện lên trên màn hình điều khiển. Đại khái là hàng thuộc dòng hi-end đây, xe taxi thông thường không thể nào lắp đặt loại thiết bị âm thanh cao cấp như vậy được.

Aomame nhìn lại một lượt khắp trong xe. Từ lúc bước lên xe nàng chỉ mải tính chuyện trong đầu, nên không để ý lắm, chiếc xe này nhìn thế nào cũng không giống xe taxi thông thường. Nội thất trang trí rất cầu kỳ, chỗ ngồi cũng hết sức dễ chịu thoải mái. Hơn nữa, trong xe rất yên tĩnh. Tính năng cách âm hoàn hảo, tạp âm bên ngoài gần như không lọt vào được, tưởng chừng như ngồi trong phòng thu cách âm vậy. Có lẽ đây là xe taxi tư. Trong đám tài xế xe tư ấy, cũng có người không tiếc tiền trang bị cho xe. Nàng khẽ đảo mắt, tìm kiếm giấy phép hành nghề taxi, nhưng không thấy. Nhưng đây cũng không giống như loại xe dù hoạt động phi pháp. Trên xe có lắp đặt đồng hồ tính tiền nghiêm chỉnh, hiển thị rõ ràng chuẩn xác số tiền xe, giờ đang là hai nghìn một trăm năm mươi yên. Nhưng cái giấy phép hành nghề taxi có ghi tên tài xế thì lại chẳng thấy đâu.

“Xe tốt quá. Yên tĩnh lắm,” Aomame ngồi sau lưng tài xế cất tiếng bắt chuyện. “Xe gì vậy nhỉ?”

“Xe Crown, dòng Royal Saloon của Toyota,” bác tài trả lời ngắn gọn.

“Tiếng nhạc nghe rõ lắm.”

“Loại xe này rất yên tĩnh. Cũng vì vậy mà tôi chọn đấy. Nói về cách âm thì kỹ thuật của hãng Toyota có lẽ là đứng hàng nhất nhì thế giới.”

Aomame gật gật đầu, lại dựa hẳn người ra phía sau. Kiểu nói chuyện của bác tài khiến cho người ta cảm thấy hơi nghi hoặc. Bác ta thường để lại một vài điểm quan trọng, không nói ra hết. Ví dụ (chỉ là ví dụ thôi), nói về cách âm thì đúng là không thể chê xe Toyota được, nhưng những chỗ khác thì không hẳn là không có vấn đề. Mỗi lần bác ta nói dứt câu, vẫn còn lại ở sau đó một khối im lặng đầy hàm ý. Trong không gian chật chội của xe, khối im lặng ấy tựa như một đám mây hư ảo lững lờ trôi qua trôi lại, làm cho Aomame cứ cảm thấy bứt rứt không yên.

“Quả nhiên là yên tĩnh,” nàng cất tiếng, như thể muốn xua đám mây nhỏ ấy đi. “Dàn hifi hình như cũng thuộc loại cao cấp phải không?”

“Lúc mua tôi đã phải rất quyết đoán đấy,” bác tài nói, giọng điệu nghe như một vị tham mưu đã giải ngũ đang kể lại những chiến dịch trong quá khứ, “nhưng cô thấy đấy, làm nghề như chúng tôi, cả ngày ngồi trong xe, vì vậy cũng muốn nghe loại nào có chất lượng âm thanh càng cao càng tốt, hơn nữa...”

Aomame đợi bác tài nói nốt. Nhưng bác ta không nói. Nàng lại nhắm mắt lắng nghe tiếng nhạc. Leoš Janáček là người như thế nào? Aomame không hề biết. Nhưng bất kể ra sao, Janáček chắc chắn không thể ngờ được rằng khúc nhạc ông sáng tác lại được người nào đó lắng nghe bên trong một chiếc Toyota Crown Royal Saloon yên tĩnh trên đường cao tốc Thủ đô đang tắc nghẽn nghiêm trọng ở Tokyo vào năm 1984.

Nhưng, sao mình có thể vừa nghe đã nhận ra đây là bản Sinfonietta của Leoš Janáček? Aomame lấy làm lạ. Vả lại, sao mình biết bản nhạc này được viết vào năm 1926? Nàng không phải người yêu thích nhạc cổ điển, mà cũng không hề có ký ức đặc biệt nào về Janáček. Vậy mà, vừa nghe thấy đoạn mở đầu của bản nhạc, các thông tin liên quan đến nó liền hiện lên trong trí óc nàng trong chớp mắt như thể một phản xạ có điều kiện, như một bầy chim bay ùa vào phòng qua ô cửa sổ đang rộng mở. Thứ âm nhạc ấy còn gây ra cho Aomame một cảm giác kỳ diệu, như thể bị “vặn xoắn” vậy. Không đau đớn, cũng không hề khó chịu, chỉ là cảm thấy tất cả các mô trong cơ thể mình dường như đang bị vắt khô đi về mặt cơ học. Aomame không sao hiểu nổi. Lẽ nào bản Sinfonietta lại mang đến cho mình thứ cảm giác không thể lý giải được này hay sao?

“Janáček,” Aomame buột miệng thốt ra trong vô thức. Lời vừa ra khỏi miệng, nàng đã hối hận: lẽ ra mình không nên nói thì hơn.

“Cô nói gì thế?”

“Janáček. Người viết bản nhạc này.”

“Tôi không biết cái tên này.”

“Là một nhà soạn nhạc người Tiệp,” Aomame đáp.

“Vậy hả?” bác tài nói, vẻ khâm phục.

“Xe này là taxi cá nhân phải không ạ?” Aomame hỏi nhằm chuyển sang chủ đề khác.

“Đúng vậy,” bác tài nói, sau đó ngừng một chút. “Một mình tôi làm thôi. Đây đã là đời xe thứ hai rồi.”

“Chỗ ngồi dễ chịu lắm.”

“Cám ơn cô. Nhưng mà, cô này,” bác tài hơi nghiêng đầu qua nói. “Có phải cô có chuyện gấp không?”

“Tôi hẹn gặp với người ta ở Shibuya, vậy nên mới phiền bác chạy lối đường cao tốc Thủ đô.”

“Cô hẹn người ta mấy giờ?”

“Bốn giờ rưỡi,” Aomame đáp.

“Giờ là ba giờ bốn lăm phút rồi. Thế này thì có lẽ không đến kịp đâu.”

“Tắc đường nghiêm trọng thế sao ạ?”

“Trông tình hình này thì đằng trước chắc là có tai nạn. Không phải tắc đường bình thường đâu. Từ đầu tới giờ hầu như chẳng nhúc nhích được tẹo nào.”

Sao bác tài này không thử nghe tin tức giao thông trên radio nhỉ? Aomame cảm thấy thật kỳ lạ. Đường cao tốc Thủ đô rơi vào trạng thái tê liệt, hoàn toàn không thể nhúc nhích. Theo lẽ thường, vào những lúc thế này, tài xế taxi nên chuyển đài để nghe tin tức giao thông mới phải chứ.

“Bác không nghe tin tức giao thông cũng biết được ạ?” nàng hỏi.

“Không tin được cái đài giao thông ấy đâu,” bác tài nói, giọng như thể có chút gì đó trống rỗng xa xăm, “cái thứ ấy quá nửa là dối trá, Công ty Quản lý Đường bộ chỉ phát những tin tức có lợi cho bọn họ thôi. Ở đây, lúc này, có chuyện gì đang thực sự diễn ra, chúng ta chỉ có thể dựa vào cặp mắt của mình để quan sát, dựa vào bộ óc của mình để phán đoán.”

“Thế theo phán đoán của bác thì tình trạng tắc đường này sẽ không thể sớm kết thúc được ạ?”

“Không thể nhanh được đâu,” bác tài lặng lẽ gật đầu. “Tôi dám đảm bảo. Mỗi lần tắc nghẹt thế này, đường cao tốc Thủ đô chính là địa ngục. Cuộc hẹn của cô quan trọng lắm à?”

Aomame nghĩ ngợi giây lát. “Vâng. Quan trọng lắm. Tôi phải đi gặp mặt khách hàng.”

“Vậy thì gay đấy. Xin lỗi... chắc là cô không đến kịp được rồi.”

Bác tài nói xong, khẽ xoay cổ mấy cái như muốn làm mềm các cơ thịt đang căng cứng. Các nếp nhăn sau gáy nhúc nhích tựa như một loài sinh vật thời thượng cổ. Aomame nhìn động tác ấy trong vô thức, chợt nhớ đến vật thể sắc bén nhọn hoắt ở đáy chiếc túi đeo chéo qua vai, lòng bàn tay rịn ra những giọt mồ hôi lấm tấm.

“Vậy tôi phải làm sao bây giờ?”

“Hết cách rồi. Đây là đường cao tốc Thủ đô, trước khi đến lối ra tiếp theo thì chúng ta chẳng thể làm được gì. Cô không thể xuống xe giữa đường, chạy đến ga tàu điện gần nhất mà đi tàu điện như là ở trên phố được.”

“Lối ra tiếp theo ở đâu thế?”

“Ikejiri. Không khéo phải đến chiều tối mới tới được đó ấy chứ.”

Đến tận chiều tối? Aomame tưởng tượng tình cảnh mình bị nhốt trong chiếc taxi này đến tận chiều tối. Bản nhạc của Janáček vẫn tiếp tục vang lên. Những nhạc cụ dây có lắp thêm bộ chặn tiếng chầm chậm tấu lên như thể muốn vỗ về tâm trạng đang căng thẳng. Cảm giác bị vặn xoắn nãy giờ đã dịu đi rất nhiều. Cảm giác đó là gì?

Aomame lên taxi ở gần Kinuta, từ Yoga đi lên tuyến số ba của đường cao tốc Thủ đô. Ban đầu dòng xe cộ còn rất thông thoáng, nhưng lúc sắp đến Sangenjaya thì đột nhiên tắc đường, chẳng bao lâu sau thì đã không thể nhúc nhích được nữa. Xe ở làn đường đi ra ngoại ô thì vẫn thông suốt không chút trở ngại, chỉ có làn đường đi vào trung tâm này ứ trệ một cách bi kịch. Thông thường, sau ba giờ chiều không phải là khoảng thời gian làn hướng vào trung tâm của tuyến đường số ba này bị tắc nghẽn, thế nên Aomame mới bảo tài xế chạy theo lối đường cao tốc Thủ đô.

“Thời gian chờ trên đường cao tốc Thủ đô thì không bị tính thêm phí đâu,” bác tài nói vào gương chiếu hậu, “vậy nên cô không cần lo chuyện tiền xe. Nhưng nếu lỡ mất cuộc hẹn thì có vẻ không được ổn lắm đúng không?”

“Đương nhiên là không ổn rồi. Nhưng không phải bác vừa nói là không có cách gì hay sao?”

Bác tài liếc nhìn mặt Aomame trong gương chiếu hậu. Bác ta đeo kính râm sáng màu. Vì ánh sáng không đủ, nên Aomame không thể nhìn rõ được vẻ mặt của bác ta.

“Chuyện này không phải là không có cách. Chỉ ngại hơi trái luật một chút, có thể nói là một biện pháp khẩn cấp... từ đây cũng có thể ngồi xe điện tới Shibuya được.”

“Biện pháp khẩn cấp?”

“Cách này không tiện nói ra trước mặt người khác cho lắm.”

Aomame không nói lời nào, nheo nheo mắt đợi bác tài nói tiếp.

“Cô nhìn kìa, phía trước chẳng phải có một khoảng trống để dừng xe khẩn cấp đấy sao?” bác tài chỉ về phía trước nói, “ở chỗ đó đó, đoạn có dựng tấm biển quảng cáo lớn của Esso ấy.”

Aomame tập trung nhìn về phía đó thì thấy bên trái con đường hai làn xe chạy, có một khoảng không gian trống dành cho các xe gặp sự cố tạm thời dừng đỗ. Đường cao tốc Thủ đô không có vai đường, vậy nên có khá nhiều chỗ để dừng xe khẩn cấp như thế này, ngoài ra còn có cả một bốt điện thoại khẩn cấp màu vàng dùng để liên lạc với văn phòng quản lý đường cao tốc nữa. Lúc này, không có xe nào dừng ở khoảng trống đó cả. Sát bên cạnh làn xe chạy theo chiều ngược lại, trên nóc tòa nhà ven lề đường, là tấm biển quảng cáo lớn của hãng dầu Esso, một chú hổ đang toét miệng cười, tay cầm vòi bơm xăng.

“Thực ra, chỗ ấy có cầu thang dẫn xuống bên dưới. Lúc gặp phải hỏa hoạn hay động đất lớn, tài xế có thể bỏ xe theo đường đó mà leo xuống chạy tháo mạng. Bình thường, các công nhân duy tu đường sá đều leo lên leo xuống qua lối ấy. Ngay gần chỗ xuống có một ga tàu điện tuyến Tokyu. Lên tàu điện thì chẳng mấy mà đến được Shibuya.”

“Trên đường cao tốc Thủ đô lại có cầu thang thoát hiểm, thật sự là tôi không biết đâu,” Aomame nói.

“Người bình thường hầu như không ai biết cả.”

“Nhưng giờ không phải tình hình khẩn cấp, nếu tự tiện leo xuống cầu thang ấy liệu có vấn đề gì không?”

Bác tài im lặng giây lát rồi nói: “Ừm, tôi cũng không rõ quy định chi tiết của Công ty Quản lý Đường bộ như thế nào nữa. Nhưng làm vậy cũng không gây điều gì bất tiện cho người khác, đại khái chắc là vẫn có thể chấp nhận được. Huống chi, ở chỗ đó lại không có ai canh chừng. Mặc dù Công ty Quản lý Đường bộ rất đông nhân viên, nhưng người thực sự làm việc thì lại ít đến tội nghiệp. Đó chính là đặc điểm nổi tiếng nhất của họ mà.”

“Cái cầu thang ấy ra sao ạ?”

“Cái đó à, rất giống với thang thoát hiểm hỏa hoạn. À, chính là cái loại thang vẫn hay thấy ở đằng sau các tòa nhà cao tầng kiểu cũ ấy. Không nguy hiểm lắm đâu. Đại khái cao khoảng ba tầng nhà, cũng không đến nỗi khó leo. Lối vào có một cái rào chắn, nhưng không cao, chỉ cần cô muốn thì trèo qua cũng không khó khăn gì.”

“Bác đã đi lối ấy bao giờ chưa?”

Không có câu trả lời. Bác tài chỉ nở một nụ cười điềm đạm trong gương chiếu hậu. Một nụ cười mỉm ẩn chứa vô vàn ngụ ý.

“Tóm lại là cô tự quyết định thôi.” Bác tài lấy đầu ngón tay gõ nhẹ lên vô lăng theo điệu nhạc, nói: “Cô cứ ngồi rỗi ở đây mà thưởng thức thứ âm nhạc tuyệt vời này, đối với tôi cũng chẳng can hệ gì. Đằng nào thì dù cố gắng mấy chúng ta cũng không thể thoát thân khỏi đây được rồi. Đã đến nước này thì chỉ còn cách nghe theo ông trời vậy. Tôi chỉ muốn nói là, nếu cô có chuyện gấp, thì cũng không phải là không có biện pháp khẩn cấp.”

Aomame hơi nhíu mày, liếc nhìn đồng hồ đeo tay, rồi ngẩng đầu lên nhìn đám xe hơi chung quanh. Bên phải là một chiếc Mitsubishi Pajero màu đen, bên ngoài phủ một lớp bụi mỏng màu trắng nhờ nhờ. Gã thanh niên trẻ ngồi bên ghế lái phụ mở cửa sổ xe, hút thuốc vẻ buồn chán. Gã để tóc dài, da ngăm ngăm đen, trên người khoác chiếc áo gió màu đỏ rực. Trong khoang chứa đồ chất mấy tấm ván lướt sóng bẩn thỉu. Phía trước nữa là một chiếc SAAB 900 màu xám. Cửa sổ kính màu đóng im ỉm, không thể nhìn ra người ngồi bên trong như thế nào. Thân xe bóng loáng, thậm chí còn soi gương được nếu lại gần.

Phía trước chiếc taxi Aomame đang ngồi là một chiếc Suzuki Alto màu đỏ đeo biển số quận Nerima có một vết lõm trên thanh ba đờ sốc phía sau. Một người mẹ trẻ đang cầm lái, đứa bé buồn chán đứng trên ghế, vặn vẹo hết bên này đến bên kia. Bà mẹ dường như đang bực bội nhắc nhở đứa bé, nhìn qua cửa sổ bằng kính vẫn có thể nhìn môi đoán xem cô ta nói gì. Quang cảnh này hoàn toàn giống hệt như mười phút trước đây. Trong mười phút này, e rằng chiếc xe không nhích được quá mười mét.

Aomame suy đi tính lại, trong đầu sắp xếp lại các yếu tố theo thứ tự ưu tiên. Nàng không mất nhiều thời gian để có được kết luận. Bản nhạc của Janáček cũng vừa khéo đến khúc cuối cùng.

Nàng lấy cặp kính râm nhỏ hiệu Rayban trong túi ra, đeo lên, đoạn rút trong ví ra ba tờ một nghìn yên, đưa cho bác tài.

“Tôi xuống xe ở đây thôi. Không thể đến muộn được,” nàng nói.

Bác tài gật đầu, nhận tiền. “Cô có cần hóa đơn không?”

“Không cần. Bác cũng không cần trả lại tiền thừa đâu.”

“Cảm ơn cô quá,” bác tài nói, “hình như gió lớn lắm đấy, cô đi cẩn thận kẻo trượt chân.”

“Tôi sẽ cẩn thận,” Aomame đáp.

“Còn nữa,” bác tài nhìn vào kính chiếu hậu nói, “có một chuyện mong cô nhớ kỹ: sự vật chẳng bao giờ giống vẻ bề ngoài của nó đâu.”

Sự vật chẳng bao giờ giống vẻ bề ngoài của nó. Aomame lặp lại một lần trong óc, hơi nhướng mày lên. “Thế là ý gì?”

Bác tài đắn đo câu chữ, đoạn nói: “Ý là, giờ cô sắp đi làm một việc không tầm thường, chẳng phải vậy sao? Giữa ban ngày ban mặt, trèo xuống theo lối thang thoát hiểm trên đường cao tốc Thủ đô, người bình thường không làm những chuyện như vậy. Đặc biệt là phụ nữ lại càng không.”

“Có lẽ là vậy,” Aomame nói.

“Thế thì, sau khi làm chuyện đó, nói thế nào nhỉ, có lẽ những quang cảnh thường ngày cô nhìn thấy sẽ hơi khác lúc bình thường một chút. Tôi cũng từng có kinh nghiệm như vậy rồi. Nhưng mà, đừng để vẻ bề ngoài đánh lừa. Hiện thực lúc nào cũng chỉ có một mà thôi.”

Aomame nghĩ ngợi giây lát về những điều bác tài vừa nói. Trong lúc nàng mải suy nghĩ, bản nhạc của Janáček cũng vừa kết thúc. Khán giả lập tức vỗ tay không ngớt. Có lẽ đài phát lại một buổi thu âm chương trình hòa nhạc ở đâu đó. Trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt kéo dài, đâu đó còn nghe thấy cả tiếng reo hò nữa. Trước mắt Aomame hiện ra hình ảnh người nhạc trưởng đang mỉm cười cúi mình mấy lượt trước các khán giả đã bắt đầu đứng lên khỏi chỗ ngồi. Ông ngẩng mặt, giơ cao tay, bắt tay nghệ sĩ violon một, rồi lại xoay người lại, giơ hai cao hai cánh tay lên khen ngợi toàn thể dàn nhạc, tiếp đó ông lại quay về phía khán giả, lại cúi mình thật sâu thêm một lần nữa. Nghe một lúc lâu, dần dần cảm giác không giống như tiếng vỗ tay nữa, mà giống như là đang lắng nghe âm thanh dai dẳng không dứt của một trận bão cát trên sao Hỏa.

“Hiện thực lúc nào cũng chỉ có một mà thôi,” bác tài chầm chậm lặp lại, như thể đang gạch chân một đoạn quan trọng trong cuốn sách.

“Đương nhiên rồi,” Aomame nói. Đúng như lời bác tài nói. Một vật thể, trong một thời gian, chỉ có thể tồn tại ở một địa điểm. Điều này đã được Einstein chứng minh rồi. Hiện thực bao giờ cũng vắng lặng, bao giờ cũng cô độc.

Aomame chỉ vào dàn hifi trên xe. “Chất lượng âm thanh tốt lắm.”

Bác tài gật đầu. “Cái ông viết bản nhạc này tên là gì ấy nhỉ?”

“Janáček.”

“Janáček,” bác tài lặp lại, tựa hồ như đang học thuộc một ám hiệu quan trọng, sau đó gạt cái lẫy mở cửa sau: “Chúc thuận buồm xuôi gió. Hy vọng cô đến kịp giờ hẹn.”

Aomame xách chiếc túi đeo vai to tướng, bước xuống xe. Tiếng vỗ tay trong radio vẫn vang lên không ngớt. Nàng cẩn thận đi men theo rìa đường cao tốc về phía khoảng trống dừng xe khẩn cấp cách đấy chừng mười mét. Mỗi khi làn đường ngược chiều có xe tải trọng lớn chạy qua, mặt đường lại khe khẽ rung lên dưới đôi giày cao gót của nàng. Nói đúng ra thì giống những con sóng, tựa như trên mặt boong một chiếc hàng không mẫu hạm đang lênh đênh giữa biển khơi cuộn trào sóng dữ.

Cô bé con ngồi trên chiếc Suzuki Alto thò gương mặt nhỏ nhắn ra khỏi cửa sổ bên ghế phụ, miệng há hốc. Nó nhìn Aomame, sau đó ngoảnh đầu lại hỏi mẹ: “Mẹ, mẹ ơi, cô kia đang làm gì thế? Cô ấy đi đâu thế? Con cũng muốn ra ngoài. Mẹ ơi, mẹ, con muốn ra ngoài kia cơ. Mẹ ơi, mẹ ơi!” Cô bé nằng nặc đòi. Nhưng bà mẹ chỉ lẳng lặng lắc đầu, liếc nhìn Aomame với ánh mắt trách móc. Đó là âm thanh duy nhất phát ra ở xung quanh, cũng là phản ứng duy nhất đập vào mắt. Những người lái xe khác đều chỉ hút thuốc, nhíu mày cau mặt, dõi mắt nhìn theo nàng đang không hề do dự bước đi giữa hàng xe dài dằng dặc và vách chắn, như thể đang nhìn một vật thể gì đó chói mắt. Dường như họ không nôn nóng phán đoán. Dẫu xe không thể nhúc nhích, nhưng có người đi bộ trên đường cao tốc Thủ đô thì không phải là chuyện thường thấy. Muốn tri giác và chấp nhận nó như một hiện thực, ít nhiều cũng cần có thời gian. Và hơn nữa, người đi bộ ấy còn là một cô gái trẻ mặc mini jupe, chân đi giày cao gót.

Aomame thu cằm nhìn thẳng về phía trước, lưng ưỡn thẳng, cảm nhận những ánh mắt xung quanh đang nhìn mình bằng làn da, bước chân đi kiên định, mạnh mẽ. Đôi giày cao gót hiệu Charles Jourdan màu hạt dẻ gõ xuống mặt đường tạo nên những âm thanh khô khốc, gió thổi hất vạt áo khoác ngoài của nàng lên. Đã vào tháng Tư, nhưng gió vẫn lạnh buốt như thế, ẩn chứa bên trong nó một dự cảm hung bạo. Nàng khoác bên ngoài bộ vest dạ mỏng màu xanh hiệu Junko Shimada một chiếc áo gió màu be, vai đeo túi da đen. Mái tóc buông xuống vai được cắt tỉa rất gọn gàng, chăm sóc kỹ lưỡng. Aomame không đeo món đồ trang sức nào. Nàng cao một mét sáu tám, không một chút thịt thừa, mọi cơ bắp đều trải qua những rèn luyện công phu, thế nhưng, cách một lần áo gió người khác không thể nào hay biết được điều này.

Tỉ mỉ quan sát gương mặt nàng từ chính diện, sẽ phát hiện ra kích cỡ hai tai nàng có sự khác biệt rất lớn. Tai trái to hơn hẳn tai phải, và hình dạng cũng hơi méo mó. Nhưng không ai để ý đến điều này, vì đôi tai luôn ẩn trong mái tóc. Cái miệng lúc nào cũng mím chặt thành một đường thẳng, ám chỉ một tính cách không hề dễ gần. Chiếc mũi nhỏ nhắn, xương gò má hơi nhô lên, vầng trán rộng, đôi lông mày dài và thẳng, mỗi nét lại góp thêm một phiếu cho khuynh hướng ấy. Nhưng gương mặt trái xoan cũng khá cân đối. Tuy rằng sở thích mỗi người mỗi khác, nhưng về cơ bản có thể nói nàng là một phụ nữ đẹp. Vấn đề là nét mặt Aomame hầu như không biểu cảm. Cặp môi mím chặt ấy, trừ trường hợp bất đắc dĩ, còn thì tuyệt đối không hé một nụ cười. Đôi mắt lạnh lùng và chăm chú như một giám sát viên xuất sắc trên boong tàu. Vì vậy, gương mặt nàng hoàn toàn không để lại cho người khác một ấn tượng gì rõ rệt. Trong rất nhiều trường hợp, vẻ tự nhiên và sự lịch lãm trong những cử động của nét mặt là thứ thu hút sự chú ý và quan tâm của người khác hơn là sự xấu đẹp của gương mặt trong trạng thái bất động.

Hầu hết mọi người đều không nắm bắt được tướng mạo của Aomame. Chỉ cần rời ánh mắt đi chỗ khác là không thể miêu tả được gương mặt nàng trông như thế nào nữa. Nói cho đúng, gương mặt của Aomame chắc chắn là một gương mặt có cá tính, nhưng không hiểu sao những đặc trưng của từng chi tiết lại không hề để lại ấn tượng gì trong óc người khác. Theo nghĩa đó, nàng giống như một loài côn trùng ngụy trang. Thay đổi màu sắc và hình dạng để hòa lẫn vào môi trường xung quanh, cố gắng không làm người khác chú ý, không để người khác có thể dễ dàng nhớ đến mình, đây chính là điều mà Aomame mong muốn. Từ bé, nàng đã tự bảo vệ mình theo cách ấy.

Nhưng nếu vì lý do nào đó mà phải nhăn mặt, thì gương mặt lạnh lùng của Aomame sẽ thay đổi hoàn toàn. Cơ mặt sẽ co rúm lại theo các hướng khác nhau, khiến cho sự méo mó của hai bên má bị cường điệu đến cùng cực, những nếp nhăn hằn sâu ở nhiều chỗ, đồng tử vội vã thu lại, mũi và miệng biến dạng một cách thô bạo, cái cằm vẹo đi, môi vểnh lên, để lộ những chiếc răng to trắng. Như thể tấm mặt nạ bị đứt dây buộc đột nhiên tuột ra khỏi gương mặt, trong chớp mắt nàng biến thành một con người hoàn toàn khác. Bất cứ ai nhìn thấy cũng đều không khỏi hồn xiêu phách lạc trước sự biến đổi đến ớn lạnh ấy. Đó là một cú nhảy bất ngờ từ sự hoàn toàn không thể nắm bắt xuống vực sâu của sợ hãi. Vì vậy, nàng luôn thận trọng, tuyệt đối không chau mày trước người lạ. Nàng chỉ thay đổi gương mặt khi ở một mình, hoặc lúc đe dọa gã đàn ông mà nàng không ưa.

Đến được khoảng trống dùng để đỗ xe khẩn cấp, nàng dừng bước nhìn bốn phía tìm cầu thang thoát hiểm. Nàng tìm thấy tức thì. Đúng như bác tài đã nói, lối vào cầu thang có hàng rào sắt cao hơn hông một chút, cửa khóa chặt. Mặc mini jupe bó sát người mà leo qua hàng rào sắt này thì hơi phiền phức một chút, nhưng chỉ cần không để ý đến ánh mắt của người khác thì không có gì là khó. Nàng không hề do dự tuột đôi giày cao gót ra, nhét vào túi đeo vai. Đi chân trần thì cái quần tất này coi như vứt đi, nhưng những thứ như thế này mua ở cửa hàng nào chẳng được.

Mọi người lặng lẽ dõi theo nàng cởi giày cao gót, rồi cởi áo khoác ngoài. Từ trong cửa sổ để mở của chiếc Toyota Celica màu đen dừng ngay phía trước vẳng ra tiếng hát cao vút của Michael Jackson, bài Billie Jean, như để làm nhạc nền cho cảnh tượng đó. Nàng thấy mình như đang đứng trên sân khấu múa thoát y. Cũng được. Cứ ngắm cho thỏa thích đi. Chắc các vị đang phát ngán với cảnh tắc đường này phải không? Nhưng, xin thưa, tôi chỉ cởi đến đây thôi. Hôm nay chỉ có giày cao gót và áo khoác. Xin lỗi nhé.

Aomame xốc lại túi lên vai cho khỏi rơi. Chiếc Toyota Crown Royal Saloon nàng vừa ngồi vẫn ở đằng xa, dưới ánh nắng chiều rực rỡ, tấm kính chắn gió phản chiếu những tia sáng chói mắt như một tấm gương. Không thấy rõ mặt bác tài, nhưng chắc chắn là bác ta đang nhìn về phía này.

Đừng để vẻ bề ngoài đánh lừa. Hiện thực lúc nào cũng chỉ có một mà thôi.

Aomame hít sâu một hơi, rồi lại thở hắt ra thật dài. Sau đó, nàng dỏng tai theo tiết tấu của Billie Jean, và leo qua hàng rào sắt. Chiếc mini jupe bị vén lên đến tận hông. Mặc xác, nàng thầm nhủ. Muốn nhìn thì nhìn đi. Dù nhìn thấy cái bên trong váy, cũng đừng mơ nhìn thấu được con người tôi. Huống hồ, đôi chân thon dài đẹp đẽ ấy chính là chỗ khiến Aomame cảm thấy tự hào nhất trên thân thể mình.

Sang đến bên kia hàng rào sắt, Aomame sửa lại vạt váy, phủi bụi trên tay, mặc lại áo khoác, đeo lại túi xách, đẩy gọng kính râm lên một chút. Cầu thang thoát hiểm đã ở ngay phía trước, một cái cầu thang sắt sơn màu ghi. Loại cầu thang đơn giản, thiết thực, chỉ quan tâm đến khía cạnh công năng. Nó không được làm ra để dành cho các cô gái đi chân trần với độc chiếc quần tất và mặc mini jupe bó sát người lên xuống. Junko Shimada cũng chẳng thiết kế bộ Âu phục này để leo lên leo xuống cầu thang thoát hiểm trên tuyến số ba đường cao tốc Thủ đô. Những chiếc xe tải cỡ lớn đi bên làn xe ngược chiều khiến cầu thang rung lên bần bật. Gió thổi vù vù qua khe giữa những thanh nan bằng sắt. Có điều, đằng nào thì cầu thang cũng ở đó rồi, việc còn lại chỉ là leo xuống mặt đất mà thôi.

Aomame ngoảnh đầu lại phía sau một lần cuối, điệu bộ như một người vừa kết thúc phần diễn thuyết của mình nhưng vẫn lưu lại trên bục phát biểu chờ nghe khán giả đặt câu hỏi, đưa ánh mắt từ bên trái sang bên phải, rồi lại từ bên phải sang bên trái nhìn những hàng xe chật cứng trên đường. Từ nãy đến giờ, hàng xe dài ấy vẫn chưa nhích được thêm chút nào. Người ta bị vây khốn ở đó, không biết làm gì, chỉ biết giương mắt lên quan sát từng động tác nhỏ nhặt nhất của nàng. Bọn họ đều lấy làm băn khoăn tự hỏi, rốt cuộc người phụ nữ này đang định làm gì vậy nhỉ? Những ánh mắt hàm chứa cả sự tò mò lẫn vẻ không hứng thú, cả sự ngưỡng mộ lẫn vẻ coi khinh cùng đổ dồn lên Aomame đang leo sang phía bên kia hàng rào sắt. Tình cảm của họ giống như một cán cân không ổn định, không nghiêng hẳn về bên nào, mà cứ đung đưa qua lại. Một sự im lặng nặng nề buông xuống, bao trùm xung quanh. Không ai giơ tay đặt câu hỏi (đương nhiên, dù có ai hỏi, Aomame cũng chẳng định trả lời). Mọi người chỉ lặng lẽ chờ đợi một cơ duyên mãi mãi không bao giờ ghé tới. Aomame hơi cúi đầu, cắn môi dưới, đánh giá bọn họ một lượt từ phía sau cặp kính râm màu xanh sẫm.

Tôi là ai, đang định đi đâu, làm gì, chắc chắn các người không thể nào tưởng tượng nổi. Aomame nói với họ như thế với đôi môi không hề mấp máy. Các người bị giam cầm ở đây, chẳng đi đâu nổi. Không thể tiến lên, cũng không thể rút lui. Nhưng tôi thì khác. Tôi có việc cần làm cho xong. Có sứ mệnh cần phải hoàn thành. Thế nên, tôi xin đi trước.

Cuối cùng, Aomame rất muốn hướng về tất cả đám người ở đây mà nhăn mặt một cái, nhưng khó khăn lắm nàng cũng tự kiềm chế được. Nàng không còn thời gian để làm những chuyện vô vị ấy nữa. Một khi gương mặt đã biến đổi, sẽ mất nhiều thời gian mới khôi phục lại được vẻ ban đầu.

Aomame quay lưng lại với đám khán giả không lời, sau đó bắt đầu leo xuống bằng những bước thận trọng theo cầu thang thoát hiểm, lòng bàn chân cảm thấy hơi lạnh thấu xương của sắt thép. Cơn gió lạnh đầu tháng Tư làm mái tóc nàng đung đưa, thi thoảng lại để lộ ra vành tai trái dị dạng.

 

Chương 2: Tengo

Một ý tưởng nho nhỏ khác

Ký ức sớm nhất của Tengo là hồi anh một tuổi rưỡi. Mẹ anh cởi áo sơ mi, tuột dải dây trên vai chiếc váy lót dài màu trắng xuống, để một người đàn ông không phải cha anh mút vú. Trên giường trẻ sơ sinh có một đứa bé trai, có lẽ đó là Tengo. Anh quan sát với ánh mắt của kẻ ngoài cuộc. Hay đó là người anh em song sinh với anh? Không, không phải. Đứa bé nằm đó có lẽ chính là Tengo hồi một tuổi rưỡi. Trực giác cho anh biết điều đó. Đứa bé ấy nhắm mắt, thở nhẹ và đang ngủ. Đối với Tengo, đây là ký ức ban sơ nhất của đời anh. Cảnh tượng diễn ra trong chừng mười giây ấy đã in hằn rõ nét lên bức tường của ý thức trong anh. Không có trước, mà cũng chẳng có sau. Như đỉnh tháp trên con phố bị nhấn chìm trong nước lũ, ký ức ấy trồi lên lẻ loi, đơn độc giữa mặt nước đục ngầu.

Mỗi lần có cơ hội, Tengo đều hỏi thăm những người xung quanh: cảnh tượng sớm nhất trong đời mà anh còn nhớ là năm mấy tuổi? Với rất nhiều người, đó là hồi bốn hoặc năm tuổi. Sớm nhất cũng không quá ba tuổi. Sớm hơn nữa thì chẳng có ai. Có vẻ như ít nhất cũng phải trên ba tuổi, trẻ con mới có thể quan sát và nhận thức cảnh tượng xung quanh mình như những sự việc có tính logic nhất định. Ở giai đoạn trước đó, tất cả những cảnh tượng đập vào mắt đều chỉ là trạng thái hỗn độn không thể nào lý giải. Thế giới giống như một bát cháo loãng, dinh dính sền sệt, không hình hài, không sao nắm bắt được. Chúng còn chưa kịp hình thành ký ức trong não bộ thì đã lướt vèo qua cửa sổ rồi.

Đương nhiên một đứa trẻ mới tuổi rưỡi đầu không thể nào suy xét được ý nghĩa của cái cảnh tượng người đàn ông không phải cha mình mút vú mẹ mình ấy. Điều đó là rõ ràng. Vì vậy, nếu ký ức này của Tengo là chuẩn xác thì chắc là anh chẳng suy xét gì, mà chỉ in lại cảnh tượng như nó vốn có vào võng mạc mà thôi. Cũng giống như máy ảnh coi vật thể chỉ đơn thuần là sự kết hợp giữa ánh sáng và bóng, rồi ghi lại một cách máy móc lên tấm phim. Thế rồi, cùng với sự trưởng thành của ý thức, hình ảnh được lưu trữ và cố định lại trong đầu ấy dần dần được phân tích, được trao cho ý nghĩa. Thế nhưng, chuyện ấy rốt cuộc có xảy ra trong hiện thực hay không? Não bộ một đứa trẻ sơ sinh có khả năng lưu trữ một hình ảnh như vậy hay không?

Hay đây chỉ là một ký ức giả? Mọi thứ đều do ý thức sau này của anh tùy tiện hư cấu ra, vì một mục đích và ý đồ nào đó? Về khả năng này, Tengo cũng từng suy nghĩ rất kỹ càng, và đi đến kết luận “e là không phải”. Nếu nói đó là hư cấu thì ký ức ấy quá đỗi rõ ràng, quá đỗi có sức thuyết phục. Ánh sáng, mùi vị, nhịp tim trong ký ức đó: những cảm giác thực tại ấy đều khó mà từ chối và không thể lầm lẫn được. Hơn nữa, nếu giả định là cảnh tượng ấy có thực thì rất nhiều sự việc sẽ có thể giải thích được rành mạch rõ ràng, bất luận là trên góc độ logic hay cảm tính.

Đoạn hình ảnh rõ nét kéo dài chừng mười giây ấy thường bất ngờ hiện lên trước mắt anh. Không có dấu hiệu báo trước, mà cũng chẳng hề do dự. Thậm chí một tiếng gõ cửa cũng không. Nó đến với Tengo đường đột, giữa lúc anh ngồi trên xe điện, lúc anh đang viết công thức toán lên bảng, lúc anh ăn cơm, lúc anh đang ngồi đối diện với ai đó chuyện trò (như lần này chẳng hạn). Tựa như một cơn sóng thần im lặng, nhưng vô phương chống đỡ, cuồn cuộn ập tới. Chưa kịp định thần thì nó đã lù lù ở ngay trước mặt khiến tay chân anh hoàn toàn tê cứng. Dòng chảy thời gian đột nhiên dừng lại. Bầu không khí xung quanh loãng đi, không thể nào hít thở một cách bình thường được. Mọi người và sự vật xung quanh đều không còn liên quan đến anh nữa. Bức tường chất lỏng cao ngút ấy hoàn toàn nuốt chửng anh. Mặc dù cảm thấy thế giới đã bị khóa trong đêm đen, nhưng ý thức anh không vì thế mà mơ hồ. Nó chỉ đang bị bẻ ghi. Ý thức, xét một cách cục bộ, thậm chí còn trở nên nhanh nhạy hơn trước. Không sợ hãi. Nhưng lại không sao mở mắt ra được. Mí mắt bị khóa chặt. Tiếng động xung quanh xa dần. Thế rồi hình ảnh quen thuộc ấy hết lần này đến lần khác được hắt lên màn chiếu của ý thức. Mồ hôi túa ra khắp người. Có thể cảm thấy được phần áo lót dưới nách đã ướt sũng. Toàn thân bắt đầu run lên nhè nhẹ. Tim đập nhanh hơn, mạnh hơn.

Nếu có người khác ở đó, Tengo sẽ làm bộ như đột nhiên bị choáng. Mà trên thực tế thì nó rất giống với cảm giác đột nhiên bị choáng. Chỉ một lúc sau, tất cả sẽ trở lại bình thường. Anh lấy khăn tay trong túi ra, che miệng lại, ngồi bất động. Rồi anh giơ tay lên tỏ ý: không sao, không cần lo lắng. Tình trạng này có lúc kết thúc trong vòng ba mươi giây, cũng có khi kéo dài hơn một phút. Trong khoảng thời gian đó, hình ảnh sẽ tự động chiếu đi chiếu lại, nếu so sánh với băng video thì giống như là được đặt ở trạng thái repeat vậy. Mẹ anh buông vai chiếc váy lót dài xuống, một người đàn ông lạ đang bú mút núm vú vươn cao của bà. Mẹ anh nhắm mắt, há miệng thở hổn hển. Mùi hương thân quen của sữa mẹ lan tỏa nhè nhẹ. Đối với một đứa trẻ sơ sinh, khứu giác là giác quan thính nhạy nhất. Khứu giác cho biết rất nhiều điều. Đôi khi là tất cả. Không có âm thanh gì. Không khí là một thứ dịch thể dính nhớp mơ hồ. Thứ nghe thấy được chỉ là tiếng tim đập yếu ớt của chính bản thân mình.

Nhìn đi! bọn họ nói. Chỉ được nhìn cảnh này thôi! bọn họ nói. Mày chỉ có thể ở đây, không thể đi đâu được! bọn họ nói. Những thông điệp ấy lặp đi lặp lại rất nhiều lần.

Cơn “bộc phát” lần này kéo dài rất lâu. Tengo nhắm nghiền hai mắt, cũng như những lần trước, lấy khăn tay bịt miệng, nghiến chặt hàm răng. Không hiểu tình trạng ấy kéo dài bao lâu. Anh chỉ có thể căn cứ vào mức độ mệt mỏi của cơ thể mà ước đoán khi mọi chuyện đã đi qua. Thể lực tiêu hao khủng khiếp. Lần đầu tiên anh cảm thấy mệt mỏi như vậy. Phải mất một lúc lâu anh mới mở mắt ra được. Mặc dù ý thức đã tranh thủ giành lại sự tỉnh táo từ trước, nhưng cơ thịt và hệ thống nội tạng lại từ chối không tuân theo mệnh lệnh của não bộ. Giống như là lũ động vật ngủ đông bị nhầm lẫn mùa vụ, tỉnh dậy sớm hơn so với dự định vậy.

“Này, Tengo!” Có người gọi anh từ lúc nãy. Âm thanh ấy dường như mơ hồ vẳng lên từ dưới đáy sâu trong hang động. Tengo nhớ ra đó chính là tên mình. “Sao thế? Vẫn bệnh cũ hả? Có ổn không?” âm thanh ấy nói. Lần này thì đã hơi gần hơn một chút.

Cuối cùng Tengo cũng mở mắt, điều chỉnh lại tiêu điểm, chăm chú nhìn xuống bàn tay phải mình đang bám chặt mép bàn. Xác định lại rằng thế giới này vẫn tồn tại, còn chưa phân rã, bản thân anh cũng vẫn tồn tại và là chính anh. Tuy rằng vẫn còn chút cảm giác tê liệt, nhưng đó đích thực là bàn tay phải của anh. Còn có cả mùi mồ hôi nữa. Thứ mùi dữ dội kỳ lạ thường ngửi thấy khi đứng trước lồng nhốt động vật trong vườn bách thú. Nhưng không nghi ngờ gì cả, đó chính là mùi của anh tỏa ra.

Cổ họng khô khốc. Tengo với tay cầm chiếc cốc thủy tinh trên bàn ăn lên, cẩn thận không để nước bắn ra ngoài, uống hết nửa cốc. Nghỉ ngơi giây lát, điều hòa lại nhịp thở, sau đó anh uống nốt nửa cốc còn lại. Ý thức dần trở về chỗ cũ, cảm giác của thân thể cũng hồi phục lại bình thường. Anh đặt cốc xuống, lấy khăn tay lau khóe miệng.

“Xin lỗi. Tôi ổn rồi,” anh nói, đoạn xác nhận lại người ngồi đối diện với mình là Komatsu. Hai người đang bàn công chuyện trong một quán cà phê gần ga Shinjuku. Những tiếng nói chuyện xung quanh nghe cũng đã bình thường trở lại. Hai người ngồi bàn bên cạnh đang nhìn về phía này như thể ngờ vực có chuyện gì xảy ra. Cô nhân viên phục vụ nét mặt lộ vẻ bất an đứng ở gần đó. Có lẽ cô lo anh sẽ nôn ọe ra ghế. Tengo ngẩng mặt lên, mỉm cười với cô, đoạn khẽ gật gật đầu. Như thể muốn nói: không có gì, không cần lo lắng.

“Liệu có phải một loại bộc phát gì không?” Komatsu hỏi.

“Không nghiêm trọng lắm đâu. Chỉ là cảm giác choáng váng khi đột nhiên đứng dậy thôi. Chỉ có điều là hơi dữ dội,” Tengo nói. Giọng nói nghe vẫn không giống của anh lắm. Có điều cũng đã gần gần là của anh rồi.

“Lúc lái xe mà bị như vậy thì phiền phức lớn đấy,” Komatsu nhìn thẳng vào mắt Tengo, nói.

“Tôi không lái xe.”

“Vậy là tốt nhất đấy. Tôi có người bạn bị dị ứng phấn hoa sam, đang lái xe thì đột nhiên hắt xì hơi liên tục, rồi cứ thế đâm thẳng vào cột điện. Nhưng mà, Tengo này, tình trạng của anh không đơn giản chỉ là hắt xì hơi thôi đâu. Lần đầu tiên thì thực đúng là làm tôi sợ giật thót cả mình. Nhưng đến lần thứ hai thì ít nhiều gì cũng quen hơn một chút rồi.”

“Tôi xin lỗi,” Tengo cầm ly cà phê lên, nhấp một ngụm thứ bên trong nó. Chẳng có mùi vị gì cả. Chỉ thấy một luồng chất lỏng âm ấm chảy qua cổ họng mà thôi.

“Có cần bảo họ mang thêm cốc nước nữa không?” Komatsu hỏi.

Tengo lắc lắc đầu. “Không cần đâu. Tôi ổn rồi mà.”

Komatsu lấy trong túi áo ra một bao Marlboro, ngậm một điếu, rồi dùng bao diêm của quán châm lửa. Đoạn, liếc nhanh qua chiếc đồng hồ đeo tay.

“Phải rồi, vừa nãy chúng ta nói tới đâu rồi nhỉ?” Tengo hỏi. Cần phải nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường mới được.

“Ừ đấy, nói tới đâu rồi nhỉ?” Komatsu nói, ngước mắt nhìn lên ngẫm nghĩ, hoặc là làm bộ như đang ngẫm nghĩ. Rốt cuộc là loại nào, Tengo cũng không rõ nữa. Trong động tác và lời ăn tiếng nói của Komatsu đều chứa ít nhiều chất kịch. “À, phải rồi, tôi đang định nói về cô gái tên là Fukaeri. Và cả Nhộng không khí nữa.”

Tengo gật gật đầu. Đang nói chuyện về Fukaeri và Nhộng không khí. Đang định trình bày với Komatsu về chuyện đó, thì đột nhiên lên cơn “bộc phát” khiến câu chuyện gián đoạn giữa chừng. Tengo lấy trong túi xách ra một tập phô tô bản thảo tiểu thuyết, đặt lên bàn. Anh đặt bàn tay lên xấp bản thảo, xác nhận lại cảm giác ấy một lần nữa.

“Trên điện thoại tôi đã nói qua với anh rồi. Ưu điểm lớn nhất của tập bản thảo Nhộng không khí này là không bắt chước bất cứ ai. Là tác phẩm của cây bút mới, mà không hề có phần nào thể hiện sự ‘muốn giống ai đó’, điều này rất hiếm thấy,” Tengo cẩn trọng lựa chọn từ ngữ. “Đúng là giọng văn thô ráp, không tinh tế tỉ mỉ, từ ngữ chọn dùng cũng rất vụng về. Ngay từ cái tên, đã lẫn lộn giữa ‘nhộng’ với ‘kén’ rồi. Nếu tập trung vào điều đó, tôi nghĩ có thể liệt kê được vô số khuyết điểm khác. Có điều, ít nhất câu chuyện này cũng có chỗ hấp dẫn. Tuy rằng toàn bộ câu chuyện là hư cấu, nhưng các chi tiết nhỏ lại được miêu tả hết sức chân thực. Cảm giác rất cân bằng. Tôi không biết dùng những từ kiểu như tính độc đáo hay tính tất yếu ở đây có thích đáng hay không nữa. Nếu có người nói còn lâu mới đạt tới trình độ đó thì có lẽ cũng đúng. Nhưng mà, sau khi cố gắng đọc hết, sẽ thấy đọng lại một cảm giác sâu lắng. Cho dù đó là một thứ cảm giác kỳ dị không thể diễn đạt thành lời, khiến người ta thấy không được thoải mái cho lắm.”

Komatsu không nói lời nào, chỉ chăm chú nhìn Tengo, muốn anh nói kỹ lưỡng hơn.

Tengo tiếp tục: “Tôi không mong chỉ vì văn chương còn non nớt vụng về mà để tác phẩm này dễ dàng bị loại ngay từ vòng sơ khảo. Làm việc này được mấy năm, tôi đã đọc vô số tác phẩm gửi đến dự thi. Bảo là đọc, nhưng nói là lướt qua thì đúng hơn. Có tác phẩm viết tương đối tốt, cũng có những thứ chẳng đáng một xu... đương nhiên, loại thứ hai chiếm phần áp đảo. Nhưng mà tóm lại là, tôi đã đọc rất nhiều tác phẩm, nói thế nào thì nói, tập bản thảo Nhộng không khí này là cái đầu tiên khiến tôi có cảm xúc. Đây cũng là lần đầu tiên tôi đọc xong rồi còn muốn đọc lại từ đầu một lượt nữa.”

Komatsu “ừm” một tiếng, rồi phà ra một hơi thuốc vẻ chẳng hề có hứng thú gì, nhếch mép lên. Nhưng với kinh nghiệm giao du không thể nói là ít với Komatsu, Tengo không dễ bị nét mặt bề ngoài của anh ta đánh lừa. Người này thường hay biểu lộ nét mặt hoàn toàn chẳng liên quan, thậm chí còn trái ngược với ý nghĩ thực sự trong đầu mình. Vì vậy, Tengo vẫn nhẫn nại chờ đối phương lên tiếng.

“Tôi cũng đọc qua rồi,” Komatsu ngưng lại một lúc mới mở miệng nói tiếp: “Nhận được điện thoại của anh, tôi lập tức lấy bản thảo ra đọc một lượt. Hừm, viết cũng tệ thật. Trợ từ dùng loạn hết cả lên, chẳng hiểu câu văn có ý gì nữa. Trước khi viết tiểu thuyết, tốt nhất là nên đi học lại cách viết câu văn cho ra hồn cái đã.”

“Có điều vẫn đọc được đến hết. Phải không?”

Komatsu mỉm cười. Nụ cười như thể moi ra từ sâu trong hốc ngăn kéo thường ngày không mở ra được. “Đúng vậy. Cậu nói không hề sai. Đọc đến hết dòng cuối cùng. Chính tôi cũng giật mình kinh ngạc. Mấy cái tác phẩm dự thi Tác giả mới này tôi chưa bao giờ đọc từ đầu đến cuối cả. Huống hồ, lại còn đọc lại một số đoạn nữa chứ. Hiếm cứ như là hiện tượng các hành tinh cùng nằm trên một đường thẳng ấy. Điểm này thì tôi thừa nhận.”

“Chứng tỏ rằng nó ‘cũng có cái gì đó’. Hay là tôi sai?”

Komatsu đặt điếu thuốc xuống gạt tàn, đưa ngón giữa bàn tay phải lên gại gại cánh mũi. Nhưng không trả lời câu hỏi của Tengo.

Tengo nói: “Cô bé này mới mười bảy tuổi, đang học trung học. Chẳng qua cô bé chưa được rèn luyện cách đọc và viết tiểu thuyết thôi. Muốn giành được giải Tác giả mới lần này, có lẽ đúng là rất khó. Nhưng mà cũng đáng được giữ lại đến vòng chung khảo chứ. Chỉ cần một câu nói của anh là có thể quyết định được, đúng không? Có lần này thì sẽ có lần sau mà.”

Komatsu lại “ừm” lên một tiếng nữa, ngáp dài một cái vẻ rất vô vị, sau đó uống một ngụm nước. “Này, Tengo, cậu cứ nghĩ mà xem. Thử để thứ văn chương vụng về này vào đến vòng cuối đi. Mấy tay thành viên hội đồng giám khảo lại chẳng nhảy dựng lên ấy à. Không khéo còn nổi trận lôi đình nữa chứ. Chắc chắn là không chịu đọc đến hết đâu. Bốn giám khảo đều là tác giả đang cầm bút. Người nào cũng bận rộn. Họ chỉ lướt qua một hai trang đầu rồi vứt sang một bên là cái chắc. Mà lại còn nói: Thứ này có khác nào bài văn của bọn trẻ con tiểu học đâu chứ! Dù cho tôi có chịu gật đầu chấp nhận, hết lòng nhiệt tình mà giải thích đây là một miếng ngọc đẹp đang đợi được mài giũa, liệu có ai chịu tin không? Mà cho dù tôi có nói được đi chăng nữa thì tôi cũng muốn để dành suất ấy cho tác phẩm nào có hy vọng hơn.”

“Nói vậy là, anh nhất định loại nó à?”

“Tôi có nói thế đâu,” Komatsu vừa gại gại cánh mũi vừa nói. “Về tác phẩm này, tôi có một ý tưởng nho nhỏ khác.”

“Một ý tưởng nho nhỏ khác?” Tengo nhắc lại. Anh nghe ra được chút ý vị chẳng lành trong câu nói đó.

“Cậu nói, trông đợi ở tác phẩm sau,” Komatsu nói, “tôi đương nhiên cũng muốn kỳ vọng. Bỏ thời gian ra chuyên tâm bồi dưỡng tác giả trẻ chắc chắn là niềm vui lớn của người làm biên tập. Ngước mắt lên bầu trời đêm quang đãng, phát hiện ra ngôi sao mới trước tất cả những người khác là điều khiến người ta hưng phấn. Nhưng nói thực lòng, tôi cảm thấy cô bé này khó có lần sau. Tuy tôi bất tài, nhưng cũng ăn cơm nghề này hai chục năm rồi. Trong thời gian đó cũng đã tận mắt chứng kiến đủ các loại tác giả ồn ã xuất hiện rồi lại lặng lẽ ra đi. Ít nhất cũng nhìn ra được người nào có lần sau người nào không. Thế cho nên, nếu để tôi nói, thì cô bé này không có lần sau đâu. Cũng tội nghiệp đấy, nhưng thậm chí còn chẳng có lần sau của lần sau nữa cơ. Mà cả lần sau của lần sau của lần sau cũng không nốt. Trước tiên, thứ văn chương này của cô ta không phải loại cứ bỏ thời gian ra rèn giũa là tiến bộ lên được. Cậu có đợi bao nhiêu lâu cũng vô dụng, chỉ uổng công mà thôi. Tại sao tôi lại nói vậy, là bởi vì bản thân tác giả chẳng hề có ý định viết ra những câu văn hay, hoặc ít ra là cố gắng học lấy cách viết văn cho hay. Cái thứ văn chương này, một là trời sinh ra đã có tài, hoặc là sau này phải khổ công gắng sức mà học tập. Nhưng cái cô Fukaeri ấy, lại chẳng được mặt nào. Giống như cậu thấy đấy, chẳng có tài hoa thiên bẩm, mà hình như cũng chẳng có ý định nỗ lực gì cả. Tôi không biết tại sao. Nhưng rõ ràng là cô ta chẳng hề hứng thú gì với văn chương. Cô ta có mong muốn được kể chuyện, không sai. Thậm chí mong muốn khá mãnh liệt là đằng khác. Điểm này thì tôi thừa nhận. Cái mong muốn đó, bằng hình thức thô ráp, đã thu hút cậu, và khiến tôi đọc đến trang cuối cùng tập bản thảo. Nhìn từ một góc độ khác, tôi không ngại gì nhận định rằng vậy là rất giỏi. Nhưng dù thế, cô ta vẫn hoàn toàn không có tương lai trở thành tiểu thuyết gia. Một chút tương lai bé bằng cục cứt con rệp cũng không có đâu. Có lẽ điều này làm cậu thất vọng, nhưng nếu cho tôi phát biểu ý kiến một cách thực lòng thì là như thế đấy.”

Tengo nghĩ ngợi giây lát, cảm thấy Komatsu giải thích như vậy không phải là không có lý. Nói gì thì nói, Komatsu cũng có trực giác của người làm biên tập.

“Nhưng mà, cho cô ấy một cơ hội cũng không phải chuyện gì xấu, phải không?” Tengo hỏi.

“Ý cậu là cứ ném xuống nước, xem xem cô ta nổi lên hay chìm xuống phải không?”

“Nói một cách đơn giản thì là vậy đấy.”

“Bao nhiêu năm nay, tôi ‘sát sinh’ nhiều quá rồi. Không muốn nhìn thấy người chết đuối nữa.”

“Vậy còn tôi thì sao?”

“Ít nhất cậu còn có nỗ lực,” Komatsu chọn lựa từ ngữ. “Theo như tôi thấy, cậu chưa bao giờ tùy tiện. Hơn nữa, đối với công việc viết văn cậu cũng hết sức khiêm nhường. Tại sao? Bởi vì cậu thích viết văn. Điểm này thì tôi đánh giá cao cậu. Thích viết văn là tố chất quan trọng nhất đối với những người muốn trở thành nhà văn.”

“Nhưng như thế thôi thì chưa đủ.”

“Lẽ đương nhiên, chỉ dựa vào điểm đó thôi thì chưa đủ, còn phải có ‘một thứ gì đó đặc biệt’ nữa. Ít nhất là cần phải có thứ gì đó mà tôi đọc không thấu được. Con người tôi ấy à, riêng về tiểu thuyết thôi nhé, đánh giá cao nhất chính là những gì mình đọc không thấu được. Còn những thứ đọc một lèo hiểu ngay, tôi chẳng thấy hứng thú chút nào cả. Đương nhiên thôi phải không. Chuyện hoàn toàn rất đơn giản.”

Tengo im lặng giây lát, rồi hỏi: “Trong tác phẩm của Fukaeri có thứ mà anh đọc không thấu ấy không?”

“Có chứ, đương nhiên là có. Cô bé này sở hữu thứ gì đó rất quan trọng. Tôi không biết đó là gì, nhưng có thể khẳng định là có. Điểm này thì không có gì để bàn cãi nữa. Cậu cũng hiểu mà tôi cũng hiểu. Giống như là khói bốc lên từ đống lửa trong một buổi chiều không có gió ấy, ai nhìn thoáng qua cũng thấy. Nhưng mà cậu Tengo à, chỉ sợ chính bản thân cô bé không đủ sức để gánh nổi thứ mình sở hữu đó thôi.”

“Cô ấy không có cơ hội nổi lên nếu bị ném xuống nước à?”

“Hoàn toàn chính xác,” Komatsu nói.

“Vì vậy không thể giữ được đến vòng cuối cùng?”

“Vấn đề chính là ở đây,” Komatsu nói, đoạn bặm môi, hai tay đặt trên bàn đan vào nhau, “vì vậy tôi mới không thể không cẩn trọng lựa chọn từ ngữ để nói với cậu đây.”

Tengo cầm ly cà phê lên, chăm chú nhìn vào thứ bên trong, rồi lại đặt về vị trí cũ. Komatsu vẫn không nói tiếng nào. Tengo hỏi: “Một ý tưởng nho nhỏ khác mà anh nói lúc nãy đang hiện lên trong đầu rồi, phải không?”

Komatsu tựa như một vị giáo sư ngồi trước mặt sinh viên có thành tích xuất sắc của mình, nheo nheo mắt, chầm chậm gật đầu. “Chính thế.”

Ở con người Komatsu luôn có cái gì đó khiến người ta không nắm bắt được. Anh ta đang nghĩ gì, cảm giác của anh ta thế nào, chỉ dựa vào nét mặt và giọng nói thì khó mà đoán biết nổi. Bản thân anh ta dường như cũng thích thú với việc lôi người khác vào trong đám khói mù mờ ấy. Tư duy quả thực là rất nhanh. Anh ta thuộc loại người chẳng bao giờ quan tâm người khác nghĩ gì, mà chỉ dựa theo logic của mình để suy xét và đưa ra phán đoán. Không bao giờ khoe khoang quá mức cần thiết, lại đọc rất nhiều sách, tri thức toàn diện mà tỉ mỉ chi tiết. Không chỉ có vậy, anh ta còn có con mắt tinh tường độc đáo, có thể bằng trực giác nhìn thấu người khác, nhìn thấu tác phẩm. Tuy rằng vẫn có nhiều thiên kiến, nhưng đối với anh ta, thiên kiến cũng là một trong các nhân tố quan trọng của sự chân thực.

Anh ta vốn là người không nói nhiều, rất ghét phải phí lời giải thích, nhưng, lúc cần thiết, lại có thể biểu đạt ý kiến của mình một cách khôn khéo và logic. Chỉ cần anh ta muốn, ngôn từ cũng có thể trở nên chua cay độc địa. Anh ta có thể nhằm trúng và đâm thấu yếu huyệt của đối phương chỉ bằng một câu nói ngắn gọn trong chớp mắt. Sở thích cá nhân đối với người hay với tác phẩm đều rất rõ rệt, loại người và tác phẩm anh ta không thể chấp nhận nhiều hơn bội phần loại còn lại. Đương nhiên, người khác đối với anh ta cũng thế, những người không có hảo cảm nhiều hơn hẳn số còn lại. Có điều, đây vừa khéo cũng là điều Komatsu muốn. Theo như Tengo thấy, Komatsu thích một mình cô độc, thậm chí còn hưởng thụ trạng thái bị người khác xa lánh hoặc rõ ràng là bị người ta căm ghét này. Tinh thần sắc sảo không thể nào nảy sinh trong hoàn cảnh dễ chịu khoan khoái được. Đây chính là tín điều của anh ta.

Komatsu hơn Tengo mười sáu tuổi, vừa tròn bốn mươi lăm. Cho tới nay công việc duy nhất là làm biên tập ở tạp chí Văn nghệ, cũng là một tay lão luyện có chút danh tiếng trong giới, nhưng cuộc sống riêng của anh ta thì chẳng ai hay biết. Dù có qua lại trong công việc, anh ta cũng chưa bao giờ nhắc đến chuyện riêng với người khác. Anh ta sinh ra lớn lên ở đâu, giờ nhà đang ở chỗ nào, Tengo hoàn toàn không biết chút gì. Dù nói chuyện rất lâu, nhưng những chủ đề như thế chẳng bao giờ được đề cập đến. Mọi người thường thắc mắc tại sao một kẻ mà ngay mới đầu đã khiến người ta có ấn tượng xấu, chẳng có mối giao du nào ra hồn, cứ mở miệng ra là khinh miệt cả văn đàn, lại có thể kiếm được bản thảo! Trong khi anh ta thì gần như không hề tốn chút sức lực nào, nếu muốn, bản thảo của tác giả nổi tiếng cũng dễ dàng về tay. Không ít lần phải nhờ vào anh ta mà tạp chí mới bảo toàn được thể diện. Vì thế, mặc dù không ưa Komatsu cho lắm, nhưng mọi người cũng phải đối xử với anh ta rất đặc biệt.

Có người đồn rằng, hồi Komatsu đang học ở khoa Văn Đại học Tokyo thì nổ ra cuộc đấu tranh chống Điều ước Đảm bảo An ninh Nhật-Mỹ năm 1960, mà anh ta chính là nhân vật cốt cán trong tổ chức phong trào sinh viên khi ấy. Nghe nói, khi Kanba Michiko bị cảnh sát đánh đập đến chết, anh ta đã ở ngay bên cạnh, cũng bị thương khá nặng. Thật hay giả thì không biết. Có điều, trên người anh ta đúng là có thứ gì đó, khiến người ta không khỏi có cảm giác “nói vậy cũng có lý”. Komatsu vừa cao vừa gầy, miệng rất rộng, mũi lại rất nhỏ, tay chân dài thượt, móng tay bám đầy cặn nicotin, làm người ta liên tưởng đến hình ảnh một phần tử trí thức cách mạng trong văn học Nga thời thế kỷ 19. Anh ta rất hiếm khi cười, nhưng khi đã cười, cả gương mặt liền trở nên rạng rỡ sáng ngời. Dù là vậy, nhưng nhìn vẫn như không được vui cho lắm. Nhìn thế nào trông cũng chỉ giống một vị pháp sư lão luyện đang mỉm cười đắc ý trong lúc chuẩn bị đưa ra một lời tiên tri chẳng lành. Tuy rằng dáng vẻ ăn mặc gọn gàng đứng đắn, nhưng lại như thể đang tuyên bố với cả thế giới rằng mình hoàn toàn không hề có hứng thú với trang phục, anh ta lúc nào cũng chỉ bận một kiểu quần áo giống nhau: áo vest bằng vải tuýt, bên trong mặc sơ mi trắng vải oxford hoặc áo polo màu xám nhạt, không đeo cà vạt, quần tây màu xám, giày da lộn. Những thứ này giống như là đồng phục chính thức của Komatsu vậy. Cảnh tượng sáu bảy chiếc áo vest vải tuýt kiểu ba cúc, màu sắc, chất liệu và hoa văn trên vải chỉ hơi khác nhau một chút, được giặt sạch sẽ treo trong tủ quần áo dường như hiện lên trước mắt. Để tiện phân biệt, có khi còn phải đánh số cũng nên.

Trên mái tóc cứng dựng ngược lên như dây thép của Komatsu, phía trước đã bắt đầu lấm tấm bạc. Tóc rối bù, gần như che kín cả tai. Lạ một điều là, độ dài mái tóc ấy lúc nào cũng giữ ở mức lẽ ra nên đi cắt tóc từ một tuần trước rồi. Làm sao làm được như vậy? Tengo không biết. Ánh mắt anh ta thi thoảng lại giống như ngôi sao lấp lánh trên bầu trời đêm đông, sáng bừng lên. Nhưng mỗi khi có chuyện trầm ngâm suy nghĩ, anh ta lại giống như ngọn núi đá ở phía bên kia mặt trăng vậy, im lặng đến bất tận. Nét biểu cảm trên gương mặt gần như hoàn toàn biến mất, đến cả nhiệt độ cơ thể cơ hồ cũng mất đi nốt.

Tengo quen Komatsu khoảng chừng năm năm trước. Anh gửi bản thảo đến tham dự cuộc thi Tác giả mới ở tạp chí Komatsu đang làm biên tập viên, được lọt vào vòng chung khảo. Komatsu gọi điện thoại tới, bảo muốn gặp mặt nói chuyện. Hai người gặp nhau trong một quán cà phê ở quận Shinjuku (chính là quán cà phê này). Komatsu nói với Tengo, lần này tác phẩm của cậu chắc khó có khả năng giành được giải Tác giả mới (quả nhiên là không được), nhưng mà cá nhân tôi rất thích. “Tôi không muốn lấy lòng cậu, có điều cậu nên biết rằng, tôi rất ít khi nói vậy với ai.” (Lúc đó Tengo không hề biết lời này hoàn toàn là sự thực.) Komatsu lại nói: Vì vậy nên, tác phẩm sau của cậu, tôi muốn là người đầu tiên đọc. Tôi sẽ làm vậy, Tengo nói.

Hơn nữa Komatsu cũng muốn biết Tengo là người như thế nào. Lớn lên ra sao, giờ đang làm công việc gì. Những gì có thể nói, Tengo đều thành thực trả lời. Anh sinh ra và lớn lên ở thành phố Ichikawa tỉnh Chiba. Sau khi Tengo ra đời không được bao lâu, mẹ anh đã bị bệnh qua đời. Ít nhất đấy là những gì cha anh nói. Không có anh chị em. Về sau cha anh cũng không tái hôn, một mình nuôi anh lớn. Hồi trước, cha anh làm nhân viên thu tiền của đài truyền hình NHK, giờ mắc phải bệnh Alzheimer, sống trong một viện điều dưỡng ở cực Nam bán đảo Boso. Tengo tốt nghiệp một khoa có cái tên hết sức kỳ quái của đại học Tsukuba, gọi là “Chuyên ngành toán học, ban tự nhiên, nhóm số một”, vừa làm thầy giáo dạy toán trong một trường dự bị ở Yoyogi, vừa viết tiểu thuyết. Lúc mới tốt nghiệp, Tengo đáng lẽ đã có thể trở thành giáo viên ở một trường cấp ba của tỉnh, nhưng anh lại chọn làm thầy giáo trường dự bị do thời gian làm việc tương đối tự do. Hiện anh đang sống độc thân trong một căn hộ nhỏ ở Kôenji.

Tengo cũng không rõ mình có thực sự khát khao trở thành nhà văn chuyên nghiệp hay không. Bản thân có tài năng viết tiểu thuyết hay không, anh cũng chẳng biết. Trong lòng chỉ rõ một sự thực: anh không thể chịu được nếu không viết tiểu thuyết mỗi ngày. Viết văn đối với anh giống như là hít thở vậy. Komatsu không hề phát biểu cảm tưởng, mà chỉ lặng lẽ ngồi nghe Tengo nói.

Không hiểu vì duyên cớ gì, nhưng xét về mặt cá nhân Komatsu hình như rất quý Tengo. Thân hình Tengo cao to (từ trung học đến đại học đều là thành phần cốt cán của câu lạc bộ Nhu đạo), đôi mắt như của một người nông dân dậy sớm. Tóc cắt ngắn, sắc da lúc nào cũng như cháy nắng, hai tai tròn và nhăn như hoa súp lơ, nhìn chẳng ra nhà văn trẻ cũng không giống thầy giáo dạy toán chút nào. Có lẽ đó chính là điểm Komatsu ưa thích. Tengo viết xong cuốn tiểu thuyết mới, liền mang đến cho Komatsu xem. Komatsu đọc xong, rồi nói lại cảm tưởng của mình với anh. Tengo sẽ sửa theo những lời góp ý chân thành của Komatsu. Sau đó lại mang bản thảo đã sửa ấy tới, Komatsu sẽ đưa ra những chỉ thị mới. Giống như huấn luyện viên nâng độ khó lên từng chút từng chút một vậy. “Trường hợp của cậu có lẽ cần phải từ từ,” Komatsu nói, “chớ nên nôn nóng. Hạ quyết tâm viết liên tục mỗi ngày. Cố gắng giữ lại hết những thứ đã viết ra, đừng nên bỏ đi. Sau này có lẽ sẽ dùng được đấy.” Tôi sẽ làm vậy, Tengo nói.

Komatsu còn mang đến một số công việc viết lách vụn vặt đưa cho Tengo làm. Tạp chí phụ nữ của nhà xuất bản nơi Komatsu làm việc cần một số bài viết vô danh. Từ việc viết lại bản thảo gửi đến, hay giới thiệu sách mới phim mới, thậm chí cả những bài về chiêm tinh bói toán, Tengo đều không chối từ, yêu cầu cái nào là viết xong cái đấy. Những bài về chiêm tinh bói toán mà Tengo tiện tay viết ra không ngờ lại nổi tiếng vì thường là ứng nghiệm. Khi anh viết “e rằng buổi sớm có động đất,” sáng sớm hôm ấy quả nhiên có động đất thật. Nghề phụ này vừa mang lại thu nhập thêm, vừa là để luyện tập viết văn. Dù dưới hình thức nào, những thứ mình viết được in ra đặt trên giá sách cũng là điều khiến người ta thích thú.

Cách đây không lâu, Tengo còn nhận được công việc làm người đọc bản thảo vòng sơ khảo cho giải thưởng Tác giả mới của tạp chí Văn nghệ. Anh vẫn đang dự thi giải Tác giả mới này, đồng thời lại là người đọc thẩm định lần đầu những tác phẩm tham gia thi khác, thật đúng là chuyện lạ, nhưng Tengo không hề để tâm đến hoàn cảnh tế nhị của mình, vẫn đọc thẩm định các tác phẩm ấy một cách công bằng. Đọc một đống những tiểu thuyết vô vị nhạt nhẽo mà dở tệ chất lên như núi, anh mới thấm thía thế nào là vô vị nhạt nhẽo, dở tệ dở hại. Mỗi lần đọc cả trăm bản thảo, chọn ra trong đó chừng mười mấy tác phẩm còn có chút ý nghĩa gì đó, rồi đưa cho Komatsu. Trên mỗi tác phẩm đều có kèm thêm một tờ giấy ghi lại cảm tưởng. Cuối cùng sẽ có năm tiểu thuyết được lọt vào vòng chung khảo, để từ đó bốn vị giám khảo chọn ra giải thưởng Tác giả mới.

Ngoài Tengo, còn có những người làm thêm khác đảm nhiệm công việc thẩm định lần đầu này, ngoài Komatsu cũng có mấy biên tập viên khác phụ trách tuyển lựa. Tuy rằng cố gắng để có thể công bằng, nhưng cũng không cần phải mất công quá. Dù số lượng có nhiều đến thế nào thì các tác phẩm có chút gì đó đáng đọc cùng lắm cũng chỉ được hai ba quyển, cho dù ai đọc thì cũng không thể nào bỏ sót được. Tác phẩm của Tengo từng ba lần lọt vào vòng chung khảo. Đương nhiên anh chẳng đến nỗi phải tự chọn tác phẩm của mình, mà là hai người đọc thẩm định ban đầu, và cả người phụ trách vòng sơ khảo trong ban biên tập là Komatsu đã cho qua. Những tác phẩm này cuối cùng đều không được giải Tác giả mới, nhưng Tengo không hề nản lòng. Một trong những lý do chính là câu “Đừng nôn nóng, cứ từ từ” của Komatsu đã in sâu vào tâm thức, hơn nữa anh cũng không muốn trở thành nhà văn ngay lúc này.

Nếu phân bổ chương trình hợp lý, một tuần sẽ có bốn ngày được ở nhà làm việc mình thích. Tengo đã dạy ở một trường dự bị liên tiếp bảy năm, rất có tiếng trong đám học sinh. Vì cách anh giảng bài ngắn gọn, đi vào trọng tâm, không vòng vo, và có thể trả lời tức khắc bất kể câu hỏi gì. Đến chính bản thân Tengo cũng lấy làm kinh ngạc, không ngờ mình lại có tài ăn nói đến thế. Cách giải thích rõ ràng, giọng nói cũng tròn vành rõ chữ, lại còn biết pha trò khiến không khí lớp học sôi nổi lên nữa. Trước khi làm thầy giáo, anh vẫn luôn cho rằng mình là kẻ ăn nói vụng về. Mà kỳ thực, cho tới bây giờ, khi mặt đối mặt nói chuyện với người khác, anh vẫn rất căng thẳng, thậm chí còn tắc tị chẳng nói được gì. Khi mấy người cùng ngồi với nhau, anh lúc nào cũng chỉ đóng vai người lắng nghe. Nhưng cứ đứng lên bục giảng, đối mặt với một đám đông không xác định, bộ óc anh liền đột nhiên trở nên sáng suốt, miệng nói không ngừng. Con người thực đúng là thứ không thể đoán biết hết được, Tengo thầm nghĩ.

Anh không phàn nàn gì về chuyện lương lậu. Không thể nói là thu nhập cao, nhưng trường dự bị trả thù lao dựa theo năng lực. Học sinh sẽ đánh giá giáo viên theo định kỳ, ai được điểm cao thì mức đãi ngộ cũng tăng lên tương ứng. Vì họ sợ những giáo viên ưu tú sẽ bị trường khác giành giật mất (sự thực thì công ty săn đầu người cũng mấy lần tìm đến tận cửa rồi). Trường học bình thường thì không thể như vậy được, tiền lương quyết định dựa trên thâm niên làm việc, cấp trên quản lý cả đời sống riêng, năng lực và danh tiếng chẳng có ý nghĩa quái gì cả. Tengo rất thích công việc ở trường dự bị này. Hầu hết học sinh đến lớp học đều có mục đích rõ ràng, đó là thi vào đại học, nhiệt tình nghe giảng. Thầy giáo lên lớp chỉ cần dạy là đủ, những thứ khác không cần quan tâm. Đối với Tengo, đây là một điểm đáng quý hiếm có. Không cần phải đau đầu vì những chuyện kiểu như học sinh hạnh kiểm kém hay vi phạm nội quy trường, chỉ cần đứng trên bục giảng dạy cách giải toán là được rồi, mà sử dụng toán học làm công cụ suy diễn các khái niệm thuần túy lại vốn là ngón tủ trời sinh của Tengo.

Những lúc ở nhà, anh dậy từ sáng sớm, và thường là viết tiểu thuyết đến chiều tối. Cây bút máy Montblanc, mực xanh và giấy viết bốn trăm ô. Chỉ cần có thế, Tengo đã cảm thấy thỏa mãn lắm rồi. Mỗi tuần một lần, người tình đã có chồng của anh sẽ đến căn hộ này, hai người ở bên nhau một buổi chiều. Làm tình với người đàn bà đã có chồng già hơn mười tuổi, tuy không có tương lai gì, nhưng lại rất thoải mái, đầy đủ về nội dung. Chiều tối anh đi tản bộ một quãng dài, trời tối thì một mình vừa nghe nhạc vừa đọc sách. Không xem ti vi. Khi có nhân viên thu tiền của đài NHK đến, anh liền từ chối lịch sự, nói rằng: xin lỗi, tôi không có ti vi. Thực sự không có, anh có thể vào kiểm tra. Có điều, bọn họ chưa từng bước chân vào nhà anh. Nhân viên thu tiền của đài NHK không được phép vào nhà người ta.

“Tôi đang tính chuyện lớn hơn một chút,” Komatsu nói.

“Chuyện lớn hơn?”

“Phải. Giải Tác giả mới là thứ nhỏ nhặt không cần nhắc đến, nếu đã làm, chúng ta phải nhắm tới cái gì đó lớn hơn.”

Tengo không nói gì. Ý đồ của Komatsu vẫn chưa rõ. Nhưng anh cảm thấy trong ý tứ có thứ gì đó khiến người ta bất an.

“Giải Akutagawa ấy,” Komatsu ngưng lại giây lát rồi mới nói.

“Giải Akutagawa,” Tengo như thể đang cầm một cây gậy ngắn viết chữ Hán lên nền cát ẩm ướt, lặp lại một lượt lời đối phương.

“Giải Akutagawa. Mặc dù cậu không hiểu chuyện đời, nhưng cái này thì hẳn là cậu biết. Trên báo đầy ra đấy, mà thời sự trên ti vi cũng đưa tin.”

“Ừm, anh Komatsu này, tôi không hiểu anh đang nói gì nữa. Không phải chúng ta đang bàn về Fukaeri à?”

“Đúng thế, chúng ta đang bàn về Fukaeri và Nhộng không khí. Chắc là không có chủ đề nào khác đâu.”

Tengo cắn môi, muốn đọc ra được ý đồ phía sau của anh ta. “Nhưng mà, chẳng phải từ đầu chúng ta đã nói, tác phẩm này còn chẳng có khả năng giành được giải Tác giả mới còn gì? Chẳng phải cứ tình hình này thì vô kế khả thi hay sao?”

“Thì đó, với tình hình trước mắt thì đúng là vô kế khả thi. Đó là sự thực rành rành.”

Tengo cần thời gian để suy nghĩ. “Ý anh là, phải sửa lại bản thảo?”

“Chẳng còn cách nào khác đâu. Đối với những tác phẩm dự thi có hy vọng, biên tập đưa ra kiến nghị để tác giả viết lại cũng là chuyện rất thường thấy, chẳng có gì lạ cả. Có điều, lần này không phải do tự tác giả sửa lại, mà để một người khác.”

“Ai vậy?” Tengo hỏi. Kỳ thực từ trước lúc mở miệng ra, anh đã biết trước đáp án rồi, chẳng qua muốn hỏi lại cho chắc chắn mà thôi.

“Cậu sẽ viết lại,” Komatsu nói.

Tengo lục tìm từ ngữ biểu đạt, nhưng không tìm được từ nào thích hợp. Anh đành thở dài một tiếng, nói: “Nhưng mà, anh Komatsu này, tác phẩm này nếu chỉ sửa chữa chút ít thì chẳng có ích gì cả đâu. Chỉ sợ phải viết lại toàn bộ từ đầu chí cuối mới ra hồn được.”

“Đương nhiên là phải làm lại từ đầu đến cuối. Cốt truyện sẽ giữ nguyên. Không khí trong cách hành văn cũng cố gắng giữ lại. Nhưng câu chữ thì gần như phải viết lại hết. Đây gọi là ‘thay da đổi thịt’ đấy. Viết lại cụ thể thế nào sẽ do cậu phụ trách, tôi phụ trách về mặt tổng thể.”

“Chuyện này liệu có thành được không?” Tengo như đang tự nói với mình.

“Cậu nghe đây,” Komatsu cầm chiếc thìa nhỏ lên, chỉ về phía Tengo, như thể người nhạc trưởng đang giơ gậy chỉ huy ra hiệu cho nghệ sĩ độc tấu, nói: “Cô bé tên Fukaeri có thứ gì đó đặc biệt, chỉ cần đọc Nhộng không khí là thấy rõ ngay. Khả năng tưởng tượng không hề tầm thường. Nhưng thật tiếc là, văn chương lại quá tạp nham, không cứu vãn nổi. Còn cậu thì viết được, tố chất tốt, có năng khiếu. Tuy dáng người cao lớn thế này, nhưng văn chương lại vừa có lý tính vừa tinh tế, mà có cả khí lực nữa. Nhưng trái ngược với Fukaeri, cậu vẫn chưa rõ mình nên viết cái gì. Vì vậy, lần nào cũng chưa thấy được mạch chính của câu chuyện. Thứ cậu nên viết ra ấy, chắc chắn là nó đang ẩn trốn trong tim cậu. Nhưng nó giống như một con vật nhỏ nhút nhát, trốn tít vào trong hang sâu, sống chết cũng không chịu ra. Biết rõ là nó trốn trong hang sâu, nhưng nó không chui ra, thì cậu không bắt được. Tôi nói đừng nôn nóng, cứ phải từ từ, chính là ý này đây.”

Tengo vụng về thay đổi tư thế ngồi trên chiếc ghế nhựa, không nói lời nào.

“Sự việc rất đơn giản,” Komatsu nhẹ nhàng vung vẩy thìa, nói tiếp, “chỉ cần kết hợp hai người này làm một, tạo ra một tác giả mới là xong. Từ cốt truyện thô mộc gồ ghề của Fukaeri, cậu đắp cho nó những lời văn hoàn mỹ. Đây là một sự kết hợp hết sức lý tưởng. Cậu có đủ sức làm chuyện này. Chẳng phải cũng chính vì vậy mà cá nhân tôi từ trước đến nay luôn ủng hộ cậu sao? Có đúng không? Những chuyện còn lại cứ để tôi lo. Chỉ cần chúng ta đồng tâm hiệp lực, giải Tác giả mới là chuyện không cần phải bàn. Kể cả là giải Akutagawa thì cũng dư sức. Tôi làm nghề này bao nhiêu năm, đâu chỉ biết ăn không ngồi rồi. Chuyện này phải xử lý thế nào, tôi nắm đến chân tơ kẽ tóc.”

Tengo hơi mấp máy mở miệng, ngây người nhìn Komatsu chằm chằm. Komatsu đặt chiếc thìa nhỏ trở lại trên đĩa tách, làm phát ra âm thanh lớn đến độ không tự nhiên.

“Nếu được giải Akutagawa, sau này sẽ thế nào?” Tengo định thần lại, hỏi.

“Được giải Akutagawa, tiếng tăm sẽ nổi như cồn. Người đời quá nửa là không hiểu được giá trị thực sự của tiểu thuyết. Nhưng lại không chịu lạc hậu với trào lưu. Nên thấy có cuốn sách được giải trở thành tiêu điểm bàn tán là sẽ mua về đọc. Nếu tác giả là nữ sinh trung học, mọi người sẽ càng phát cuồng lên. Sách bán chạy, sẽ kiếm được một khoản bộn. Tiền kiếm được ba chúng ta chia nhau theo tỷ lệ thích hợp. Về mặt này tôi sẽ sắp xếp sao cho ổn thỏa.”

“Mấy chuyện chia chác đó, hiện giờ tôi không quan tâm,” Tengo nói với giọng khô khan, “làm chuyện này, không mâu thuẫn gì với đạo đức nghề nghiệp của một biên tập viên à? Chẳng may vụ này bị lộ ra thì sẽ lớn chuyện đấy. Anh cũng đừng mong tiếp tục làm việc ở nhà xuất bản, phải không?”

“Không dễ bị lộ thế đâu. Chỉ cần tôi muốn, mọi chuyện sẽ êm xuôi. Mà dù có bị lộ thì tôi ngại gì mà không bỏ quách cái công ty ấy! Đằng nào thì cấp trên cũng không khoái mình, toàn cho ăn cơm hẩm. Gì chứ công việc thì sẽ tìm được ngay thôi. Tôi ấy à, tôi làm vậy hoàn toàn không phải vì tiền. Tôi chỉ muốn hạ nhục cái giới văn chương này một trận. Cả một lũ chen chúc trong hang động tối tăm, vừa tâng bốc, bợ đít, rồi thì giẫm đạp lẫn nhau, lại vừa cao giọng khoác lác sứ mệnh văn học thế này thế nọ, cái đám vô dụng này, tôi muốn chọc cho chúng một trận. Chui qua lỗ hổng của cơ chế, chơi chúng một vố thật đau. Cậu không cảm thấy làm vậy rất vui sao?”

Tengo không thấy vui vẻ cho lắm. Anh vẫn chưa hiểu biết gì về cái gọi là giới văn chương ấy, biết được một người tài cán như Komatsu lại định đi qua một cây cầu nguy hiểm chỉ vì một động cơ trẻ con như thế, nên trong phút chốc chẳng nói được lời nào.

“Những điều anh nói, tôi nghe cứ như là một trò lừa đảo.”

“Hình thức hợp tác này không hề hiếm gặp,” Komatsu chau mày nói, “các loại truyện tranh đăng trên tạp chí có đến quá nửa là như vậy. Mọi người cùng góp sức động não nghĩ ra một câu chuyện, họa sĩ vẽ ra các đường nét cơ bản, rồi các trợ lý sẽ vẽ nốt chi tiết, tô màu. Việc này với việc chế tạo đồng hồ trong nhà máy cũng cùng một cách thức thôi. Trong giới viết tiểu thuyết cũng có những trường hợp tương tự. Ví dụ, tiểu thuyết lãng mạn là như vậy đấy, hầu hết đều dựa trên các công thức định sẵn của nhà xuất bản, rồi thuê tác giả viết lại cho có màu mè. Nói cách khác, đây chính là hệ thống phân công lao động. Không làm thế thì đừng hòng mong sản xuất hàng loạt được. Chỉ có điều, trong giới văn học thuần túy bảo thủ ấy, phương thức này vẫn không thể thực hiện công khai, vì thế, chiến lược sẽ là, chúng ta cần đưa cô bé Fukaeri ấy lên sân khấu. Nếu chẳng may bị lộ, có lẽ sẽ trở thành xì căng đan, nhưng đâu có vi phạm pháp luật. Cách làm này đã là xu thế của thời đại rồi. Hơn nữa, có phải chúng ta đang nói tới Balzac hay Murasaki Shikibu(1)_ đâu. Chẳng qua chỉ sửa chữa một chút cho tác phẩm thô vụng, hớ hênh của một nữ sinh trung học thành một tác phẩm nên hồn mà thôi! Thế thì có gì mà không được chứ? Tác phẩm sau khi gia công có chất lượng tốt, được nhiều độc giả ưa thích, như thế chẳng phải là đã đủ rồi sao?”

Tengo nghĩ ngợi một lát về những điều Komatsu vừa nói, rồi cẩn trọng chọn lựa từ ngữ nói: “Có hai vấn đề. Thực ra chắc là có rất nhiều vấn đề, nhưng tôi tạm thời chỉ nêu lên hai cái thôi. Trước tiên, cô bé Fukaeri kia có đồng ý để người khác viết lại tác phẩm của mình không? Nếu cô ấy không nhận lời, dĩ nhiên sẽ không thể tiếp tục được nữa rồi. Thứ nữa, dù cô ấy có đồng ý, tôi có thể viết lại được câu chuyện này cho hay ho hay không, cũng là một vấn đề. Việc viết chung này hết sức tế nhị, chỉ sợ sự việc không đơn giản như anh nghĩ thôi đâu.”

“Tengo à, chắc chắn là cậu làm được,” Komatsu dường như đã đoán trước được vấn đề này, Tengo vừa dứt tiếng thì anh ta đã tiếp lời ngay tức khắc, “không nghi ngờ gì cả, chắc chắn cậu sẽ làm được. Khi vừa bắt đầu đọc Nhộng không khí, ý tưởng này đã đột nhiên nảy lên trong đầu tôi rồi, đây chính là câu chuyện để Tengo viết lại! Nói cho rõ hơn một chút, đây là câu chuyện thích hợp cho cậu viết lại. Là một câu chuyện đang đợi cậu viết lại. Cậu không nghĩ thế à?”

Tengo chỉ lắc đầu, không nói được gì.

“Đừng kết luận nhanh thế,” Komatsu bình tĩnh nói, “chuyện này hết sức quan trọng. Cứ suy nghĩ hai ba ngày. Đọc lại Nhộng không khí một lượt. Rồi nghĩ cho kỹ càng về đề nghị của tôi. À phải rồi, còn cái này nữa tôi đưa luôn cho cậu.”

Komatsu lấy trong túi áo khoác ra một phong bì màu nâu, đưa cho Tengo. Bên trong phong bì là hai tấm ảnh màu. Ảnh của một cô bé, một tấm chụp chân dung từ ngực trở lên, tấm kia là kiểu ảnh sinh hoạt chụp toàn thân. Hình như được chụp cùng một thời gian. Cô đứng trước một cầu thang nào đó. Bậc thang đá rộng rãi. Gương mặt đẹp theo kiểu cổ điển, mái tóc dài buông thẳng. Áo trắng. Dáng người nhỏ nhắn, hơi gầy. Đôi môi đang cố nhoẻn ra một nụ cười, trong khi ánh mắt thì đang phản kháng. Đôi mắt quá đỗi nghiêm túc. Đôi mắt như thể đang theo đuổi thứ gì đó. Tengo lần lượt xem cả hai tấm ảnh một lúc. Không hiểu tại sao, nhìn hai tấm ảnh này, anh chợt nhớ lại mình vào tầm tuổi ấy, lồng ngực hơi nhâm nhẩm đau. Đó là cảm giác đau đớn hết sức đặc biệt, đã lâu lắm rồi anh chưa từng có lại. Trong dáng người cô gái dường như có thứ gì đó gợi lên nỗi đau ấy trong anh.

Komatsu nói: “Đây chính là Fukaeri đó. Khá đẹp phải không. Hơn nữa còn thuộc loại giản dị, sạch sẽ. Mười bảy tuổi. Chẳng có gì để bới móc bắt bẻ cả. Tên thật là Fukada Eriko. Nhưng chúng ta sẽ không công bố tên thật, mà chỉ sử dụng tên ‘Fukaeri’ thôi. Cậu không cảm thấy, nếu cô bé giành được giải Akutagawa thì chắc chắn sẽ trở thành chủ đề nóng hay sao? Bọn truyền thông chắc hẳn sẽ như lũ dơi buổi hoàng hôn, kết thành từng đàn bay lượn trên đầu ấy chứ. Sách chắc chắn sẽ in không đủ bán cho mà xem.”

Komatsu kiếm đâu ra mấy tấm ảnh này? Tengo lấy làm lạ. Gửi bản thảo đến đâu cần kèm theo ảnh. Nhưng Tengo không muốn hỏi. Một trong những lý do là vì không thể đoán được câu trả lời như thế nào... phần nữa là vì anh cũng không muốn biết.

“Cậu cầm luôn đi. Biết đâu lại có tác dụng gì,” Komatsu nói. Tengo liền nhét hai tấm ảnh trở lại phong bì, đặt lên phía trên bản phô tô của Nhộng không khí.

“Anh Komatsu, tôi gần như chẳng biết gì về chuyện trong giới cả, nhưng theo lẽ thường mà suy đoán thì đây là một kế hoạch hết sức nguy hiểm. Một khi anh đã nói dối cả xã hội thì sẽ buộc phải tiếp tục nói dối mãi, phải che đậy lấp liếm mãi. Cả về phương diện tâm lý lẫn kỹ thuật, đây là chuyện không hề đơn giản đâu. Chỉ cần một người bất cẩn làm sai chuyện gì đó, rất có thể sẽ mang họa đến cho tất cả những người còn lại. Anh không thấy vậy sao?”

Komatsu rút một điếu mới, châm thuốc. “Cậu nói đúng. Vừa hợp lẽ lại vừa chính xác. Đây đúng là một kế hoạch hết sức mạo hiểm. Trong lúc này, những nhân tố chưa xác định còn quá nhiều. Không thể dự đoán được rốt cuộc sẽ có chuyện gì xảy ra. Có khi sẽ thất bại, mang đến cảm giác không vui cho mỗi người. Tôi hoàn toàn hiểu được điều này. Thế nhưng, Tengo à, sau khi nghĩ kỹ tất cả mọi điều, bản năng nói với tôi rằng: hãy tiến lên! Bởi vì đây là cơ hội ngàn năm có một đấy! Cho đến lúc này, tôi vẫn chưa từng một lần gặp được cơ hội như thế. Chỉ sợ sau này cũng chẳng có nữa đâu. Đem so với việc đánh bạc có lẽ không được thích hợp cho lắm, nhưng mà, trên tay giờ đã có cả bộ bài đẹp rồi. Xèng cũng chất đầy một đống. Mọi điều kiện đều đã sẵn sàng. Nếu bỏ qua cơ hội lần này, chắc chắn sẽ hối hận về sau.”

Tengo im lặng không nói gì, ngước nhìn nụ cười chẳng lành nở ra trên gương mặt người đối diện.

“Điều quan trọng nhất nằm ở chỗ chúng ta sẽ nhào nặn lại để Nhộng không khí trở thành một tác phẩm xuất sắc. Đây là một câu chuyện lẽ ra phải được viết tốt hơn. Bên trong nó có thứ gì đó cực kỳ quan trọng. Một thứ gì cần phải được một ai đó khéo léo lôi ra. Chắc chắn là cậu cũng nghĩ như vậy. Hay là tôi sai? Vì mục đích này, chúng ta hãy cùng hiệp lực. Tạo ra một dự án kết hợp khả năng của tất cả mọi người. Động cơ dù có trương ra bất cứ đâu cũng không có gì phải xấu hổ.”

“Có điều, anh Komatsu này, cho dù có đưa ra lý do cao thượng thế nào, danh phận đường hoàng thế nào, nói gì thì nói, nó vẫn giống như hành vi lừa gạt vậy. Có thể chẳng có gì xấu hổ khi để lộ động cơ, nhưng trên thực tế thì lại chẳng thể trương ra đâu được. Chỉ có thể hành động một cách lén lút mà thôi. Nếu dùng từ ‘lừa gạt’ không được thích đáng cho lắm thì có thể gọi là hành vi bội tín. Dẫu không vi phạm pháp luật, nhưng ở đây còn vấn đề đạo đức nữa. Anh nghĩ thử xem, mình là biên tập lại đi tự tạo ra tác phẩm đoạt giải Tác giả mới của tạp chí Văn nghệ thuộc nhà xuất bản của mình, thế có khác nào giao dịch cổ phiếu nội bộ không?”

“Văn chương đâu thể so sánh với cổ phiếu được. Hai thứ ấy hoàn toàn khác nhau mà.”

“Anh nói thử xem khác nhau ở điểm nào chứ?”

“Chẳng hạn nhé, phải rồi, cậu đã bỏ qua một sự thực hết sức quan trọng,” Komatsu nói. Miệng anh ta ngoác ra cười thích thú. Tengo chưa bao giờ thấy miệng Komatsu ngoác to như vậy bao giờ cả. “Phải nói là, cậu cố tình không nhận thấy mới đúng. Sự thực này, chính là cậu cũng đã nôn nao muốn thử rồi. Ý cậu đã muốn viết lại Nhộng không khí rồi. Tôi thoáng nhìn qua là biết ngay. Mạo hiểm hay đạo đức chẳng là cái cóc gì! Tengo à, chắc chắn lúc này trong lòng cậu đang rất hy vọng có thể tự tay sửa lại tiểu thuyết Nhộng không khí đó, chắc chắn rất muốn thay Fukaeri, đưa cái gì đó ấy ra. Đấy, đây chính là điểm khác biệt giữa văn chương và cổ phiếu. Ở đây không có xấu hay tốt, chỉ có một động cơ còn hơn cả tiền bạc đang thúc đẩy sự vật tiến lên phía trước. Cậu về nhà tự hỏi lại mình đi. Đứng trước gương mà quan sát mặt mình thật kỹ vào. Trên mặt cậu đã viết rất rõ điều ấy rồi đấy.”

Tengo cảm thấy không khí xung quanh mình dường như đột nhiên trở nên loãng hẳn. Anh đảo mắt nhìn nhanh xung quanh một lượt. Đoạn hình ảnh ấy lại sắp xuất hiện rồi sao? Nhưng không có vẻ gì là như vậy cả. Bầu không khí loãng này đến từ một vùng khác. Anh lấy trong túi ra chiếc khăn tay, lau mồ hôi trên trán. Những điều Komatsu nói thường đều rất chính xác. Không hiểu tại sao nữa?




Đánh giá tác phẩm
Nhận xét/Đánh giá
Sản phẩm cùng loại:
Chiến binh cầu vồng (Sắp xuất bản)
(240412)
TRỐN CHẠY
(280312)
HỦY HOẠI VÌ YÊU
(060212)
HỌP MẶT
(310112)
ĐIỆP KHÚC CƠN ĐÓI
(190112)
BẢN ĐỒ VÀ VÙNG ĐẤT
(180112)
MỘT NGÀY
(081211)
NGƯỜI ĐỌC SÁCH

Cuốn sách như một bộ bách khoa toàn thư độc đáo và cuốn hút với sức hấp dẫn của văn chương hạng nhất này đã ra đời từ năm 1980, song nếu tính theo thang thời gian vũ trụ thì nó chỉ vừa được viết xong, đúng như tinh thần một câu trong sách này - “Vũ trụ chỉ mới được khám phá ngày hôm qua” (tr.571).

Thăm dò
Bạn mua sách dựa trên kinh nghiệm nào?
 
Trang chủTin tứcTác giảPhát hànhLiên hệLiên kếtGiới thiệuNewsletterDownload