(Đoạn trích này lấy từ bản thảo chưa qua khâu biên tập cuối nên có thể sẽ có khác biệt với bản in sau khi sách xuất bản)
Đây là thế giới của Barnum và
Bailey,
Tất thảy đều tột cùng giả dối
Nhưng giả dối cũng sẽ thành sự thật
Nếu như em tin vào anh
It’s only a paper moon
(E.Y.Harburg & Harold Arlen)
***
CHƯƠNG 1: AOMAME
Đừng bị vẻ bề ngoài đánh lừa
Radio trong xe taxi đang phát chương trình âm nhạc cổ điển
trên sóng FM. Đó là bản Sinfonietta của Leoš Janáček. Ngồi nghe trong taxi đang
bị dòng xe cộ chật ních bao vây thì có vẻ không được thích hợp cho lắm. Bác tài
hình như cũng không nhiệt tình thưởng thức âm nhạc. Bác tài tuổi trung niên, tựa
hồ một ngư phủ lão luyện đứng nơi mũi thuyền đang cố tìm điểm hợp lưu của con
nước triều mang theo điềm dữ, lặng lẽ quan sát hàng xe dài dằng dặc phía trước.
Aomame ngả hẳn người ra lưng ghế, khép hờ hai mắt nghe nhạc.
Trên đời này liệu có bao nhiêu
người chỉ cần nghe một đoạn đầu đã có thể nói ngay đó là bản Sinfonietta
của Janáček? E rằng con số ấy hẳn phải nằm giữa “ít vô cùng” và “gần như không
có”. Nhưng chẳng hiểu vì sao Aomame lại làm được.
Janáček sáng tác bản giao hưởng
dành cho dàn nhạc nhỏ này vào năm 1926, khúc dạo đầu vốn là đoạn kèn đồng cổ động
cho một kỳ đại hội thể thao nào đó. Aomame mường tượng ra hình ảnh nước cộng
hòa Tiệp Khắc vào thời điểm năm 1926: Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc,
người dân cuối cùng cũng được giải phóng khỏi ách thống trị dài lâu của vương
triều Habsburg, mọi người tụ tập trong quán cà phê thỏa sức uống bia Pilsner, sản
xuất ra những khẩu súng máy nhẹ bỗng và đẹp đẽ, tận tình hưởng thụ khoảng thời
gian hòa bình ngắn ngủi ở Trung Âu khi ấy. Hai năm trước, Franz Kafka đã qua đời
trong chán nản. Không bao lâu sau, Hitler từ xó xỉnh nào đó đột ngột xuất hiện,
thôn tính cả đất nước nhỏ bé xinh đẹp này, nhưng vào thời điểm ấy không một ai
biết được điều tồi tệ sắp xảy ra. Có lẽ, mệnh đề quan trọng nhất mà lịch sử cho
nhân loại thấy chính là “Vào thời điểm ấy, không ai có thể biết được tương lai
sẽ xảy ra chuyện gì.” Aomame vừa nghe nhạc vừa tưởng tượng đến ngọn gió nhẹ
nhàng ấm áp thổi qua bình nguyên Bohemia,
không ngừng nghĩ đến những trắc trở của lịch sử.
Năm 1926, Thiên hoàng Taisho băng
hà, niên hiệu được đổi thành Showa. Ở Nhật Bản, một thời đại tối tăm, tồi tệ sắp
sửa mở màn. Khúc nhạc xen kẽ ngắn ngủi của chủ nghĩa hiện đại và nền dân chủ cuối
cùng cũng kết thúc, chủ nghĩa phát xít bắt đầu nổi lên.
Cũng như thể thao, lịch sử là một
trong những sở thích của Aomame. Nàng hầu như không đọc tiểu thuyết, nhưng nếu
là sách về lịch sử thì nàng đã đọc nhiều vô kể. Điều khiến nàng cảm thấy hứng
thú với lịch sử là, tất cả sự việc về cơ bản đều kết nối với những ngày tháng
và địa điểm xác định. Đối với nàng, việc ghi nhớ ngày tháng lịch sử không phải
chuyện khó khăn gì. Dù không thuộc lòng những con số đó, song chỉ cần nắm được
mối quan hệ trước sau của các sự kiện lịch sử, ngày tháng sẽ tự động hiện lên
trong trí óc. Thời cấp II và cấp III, điểm thi môn lịch sử của Aomame lúc nào
cũng cao nhất lớp. Mỗi lần thấy người khác gặp khó khăn khi ghi nhớ các mốc lịch
sử, Aomame đều lấy làm khó hiểu. Sao chuyện đơn giản như vậy mà cũng không làm
được nhỉ?
Aomame là họ thật của nàng. Ông nội
nàng là người tỉnh Fukushima,
ở cái nơi chẳng biết nên gọi là thị trấn nhỏ hay ngôi làng nhỏ vùng núi ấy,
nghe nói đúng là có mấy nhà họ Aomame thật. Nhưng nàng chưa đến đó bao giờ. Từ
trước khi nàng sinh ra, cha nàng đã cắt đứt quan hệ với ông bà. Phía nhà mẹ
nàng cũng vậy. Vì thế, Aomame chưa một lần gặp ông bà nội cũng như ông bà ngoại.
Nàng hầu như không đi du lịch, nhưng thi thoảng cũng có cơ hội đi đây đi đó, đã
thành thói quen, lần nào nàng cũng lật tìm trong cuốn danh bạ điện thoại để ở
khách sạn, xem có nhà nào họ Aomame hay không. Nhưng cho đến giờ nàng vẫn chưa
phát hiện ra người nào họ Aomame ở bất cứ thành phố hay thị trấn nào nàng từng
ghé chân. Mỗi lần như vậy, nàng đều có cảm giác như mình là một kẻ phiêu du cô
độc, trôi giạt giữa đại dương mênh mông.
Lúc nào nàng cũng cảm thấy việc
xưng tên thật là phiền phức. Mỗi lần nàng nói ra tên mình, người đối diện liền
nhìn nàng chằm chằm bằng ánh mắt kỳ quái hoặc hết sức ngờ vực. Cô Aomame(1)
Đúng vậy. Đậu Xanh. Thời còn làm ở công ty, lúc nào cũng phải kè kè mang theo
danh thiếp cho nên càng phiền phức hơn. Lúc đưa danh thiếp ra, đối phương nhận
lấy rồi chăm chú nhìn trong giây lát, cứ như là bất ngờ nhận được một mẩu cáo
phó vậy. Khi nàng xưng tên qua điện thoại, có lúc người ở bên kia đầu dây còn bật
cười hinh hích. Những khi đi làm thủ tục ở cơ quan nhà nước hoặc đợi khám ở
phòng chờ bệnh viện, lúc tên nàng được gọi đến, mọi người đều sẽ ngẩng đầu lên,
muốn nhìn thử xem cái người mang họ Aomame này rốt cuộc mặt mũi ra làm sao.
Thi thoảng lại có người gọi lầm
tên nàng thành “Cô Edamame” (Đậu nành). Cũng có khi nàng bị gọi là “Cô
Soramame” (Đậu tằm). Mỗi lần như thế, Aomame đều mất công đính chính: “Không,
không phải là Edamame (hoặc Soramame), mà là Aomame. Tuy là rất giống nhau,
nhưng không phải vậy đâu.” Đối phương nghe vậy lại cười gượng gạo rồi xin lỗi,
nói: “Ôi chà chà, cái họ này hiếm gặp thật đấy.” Trong ba mươi năm cuộc đời
mình, không hiểu nàng đã nghe bao nhiêu lần những câu nói kiểu như vậy. Không
biết đã bao nhiêu lần nàng bị người ta trêu đùa vì cái họ này của mình. Nếu
sinh ra không mang họ này, đời mình có lẽ đã khác nhiều. Nếu mang những cái họ
phổ biến đâu đâu cũng thấy, như là Sato, Tanaka hay Suzuki gì gì đó... có lẽ cuộc
đời mình sẽ dễ thở hơn, có thể nhìn ngắm thế giới này bằng ánh mắt bao dung
hơn. Có lẽ.
Aomame nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng
nhạc, để âm thanh tuyệt mỹ của dàn hợp tấu khí nhạc thấm vào tâm tưởng. Đột
nhiên nàng ý thức được một chuyện: nếu xét về radio trên xe taxi thì chất lượng
âm thanh này dường như quá tốt. Âm lượng bật nhỏ, nhỏ lắm, nhưng âm thanh sâu,
nghe rõ được cả các âm bồi. Nàng mở mắt, nhổm người ra phía trước, nhìn dàn âm
thanh lập thể gắn trên bảng điều khiển. Cả dàn máy đều một màu đen tuyền, đang
tự hào ánh lên những tia sáng diễm lệ. Tuy không thấy rõ tên hãng chế tạo,
nhưng chỉ cần nhìn vẻ bề ngoài cũng biết là hàng chất lượng cao. Cùng với rất
nhiều nút vặn, những con số màu xanh tao nhã hiện lên trên màn hình điều khiển.
Đại khái là hàng thuộc dòng hi-end đây, xe taxi thông thường không thể
nào lắp đặt loại thiết bị âm thanh cao cấp như vậy được.
Aomame nhìn lại một lượt khắp
trong xe. Từ lúc bước lên xe nàng chỉ mải tính chuyện trong đầu, nên không để ý
lắm, chiếc xe này nhìn thế nào cũng không giống xe taxi thông thường. Nội thất
trang trí rất cầu kỳ, chỗ ngồi cũng hết sức dễ chịu thoải mái. Hơn nữa, trong
xe rất yên tĩnh. Tính năng cách âm hoàn hảo, tạp âm bên ngoài gần như không lọt
vào được, tưởng chừng như ngồi trong phòng thu cách âm vậy. Có lẽ đây là xe
taxi tư. Trong đám tài xế xe tư ấy, cũng có người không tiếc tiền trang bị cho
xe. Nàng khẽ đảo mắt, tìm kiếm giấy phép hành nghề taxi, nhưng không thấy.
Nhưng đây cũng không giống như loại xe dù hoạt động phi pháp. Trên xe có lắp đặt
đồng hồ tính tiền nghiêm chỉnh, hiển thị rõ ràng chuẩn xác số tiền xe, giờ đang
là hai nghìn một trăm năm mươi yên. Nhưng cái giấy phép hành nghề taxi có ghi
tên tài xế thì lại chẳng thấy đâu.
“Xe tốt quá. Yên tĩnh lắm,”
Aomame ngồi sau lưng tài xế cất tiếng bắt chuyện. “Xe gì vậy nhỉ?”
“Xe Crown, dòng Royal Saloon của
Toyota,” bác tài trả lời ngắn gọn.
“Tiếng nhạc nghe rõ lắm.”
“Loại xe này rất yên tĩnh. Cũng
vì vậy mà tôi chọn đấy. Nói về cách âm thì kỹ thuật của hãng Toyota có lẽ là đứng
hàng nhất nhì thế giới.”
Aomame gật gật đầu, lại dựa hẳn
người ra phía sau. Kiểu nói chuyện của bác tài khiến cho người ta cảm thấy hơi
nghi hoặc. Bác ta thường để lại một vài điểm quan trọng, không nói ra hết. Ví dụ
(chỉ là ví dụ thôi), nói về cách âm thì đúng là không thể chê xe Toyota được,
nhưng những chỗ khác thì không hẳn là không có vấn đề. Mỗi lần bác ta nói dứt
câu, vẫn còn lại ở sau đó một khối im lặng đầy hàm ý. Trong không gian chật chội
của xe, khối im lặng ấy tựa như một đám mây hư ảo lững lờ trôi qua trôi lại,
làm cho Aomame cứ cảm thấy bứt rứt không yên.
“Quả nhiên là yên tĩnh,” nàng cất
tiếng, như thể muốn xua đám mây nhỏ ấy đi. “Dàn hifi hình như cũng thuộc loại
cao cấp phải không?”
“Lúc mua tôi đã phải rất quyết
đoán đấy,” bác tài nói, giọng điệu nghe như một vị tham mưu đã giải ngũ đang kể
lại những chiến dịch trong quá khứ, “nhưng cô thấy đấy, làm nghề như chúng tôi,
cả ngày ngồi trong xe, vì vậy cũng muốn nghe loại nào có chất lượng âm thanh
càng cao càng tốt, hơn nữa...”
Aomame đợi bác tài nói nốt. Nhưng
bác ta không nói. Nàng lại nhắm mắt lắng nghe tiếng nhạc. Leoš Janáček là người
như thế nào? Aomame không hề biết. Nhưng bất kể ra sao, Janáček chắc chắn không
thể ngờ được rằng khúc nhạc ông sáng tác lại được người nào đó lắng nghe bên
trong một chiếc Toyota Crown Royal Saloon yên tĩnh trên đường cao tốc Thủ đô
đang tắc nghẽn nghiêm trọng ở Tokyo vào năm 1984.
Nhưng, sao mình có thể vừa nghe
đã nhận ra đây là bản Sinfonietta của Leoš Janáček? Aomame lấy làm lạ. Vả
lại, sao mình biết bản nhạc này được viết vào năm 1926? Nàng không phải người
yêu thích nhạc cổ điển, mà cũng không hề có ký ức đặc biệt nào về Janáček. Vậy
mà, vừa nghe thấy đoạn mở đầu của bản nhạc, các thông tin liên quan đến nó liền
hiện lên trong trí óc nàng trong chớp mắt như thể một phản xạ có điều kiện, như
một bầy chim bay ùa vào phòng qua ô cửa sổ đang rộng mở. Thứ âm nhạc ấy còn gây
ra cho Aomame một cảm giác kỳ diệu, như thể bị “vặn xoắn” vậy. Không đau đớn,
cũng không hề khó chịu, chỉ là cảm thấy tất cả các mô trong cơ thể mình dường
như đang bị vắt khô đi về mặt cơ học. Aomame không sao hiểu nổi. Lẽ nào bản Sinfonietta
lại mang đến cho mình thứ cảm giác không thể lý giải được này hay sao?
“Janáček,” Aomame buột miệng thốt
ra trong vô thức. Lời vừa ra khỏi miệng, nàng đã hối hận: lẽ ra mình không nên
nói thì hơn.
“Cô nói gì thế?”
“Janáček. Người viết bản nhạc
này.”
“Tôi không biết cái tên này.”
“Là một nhà soạn nhạc người Tiệp,”
Aomame đáp.
“Vậy hả?” bác tài nói, vẻ khâm phục.
“Xe này là taxi cá nhân phải
không ạ?” Aomame hỏi nhằm chuyển sang chủ đề khác.
“Đúng vậy,” bác tài nói, sau đó
ngừng một chút. “Một mình tôi làm thôi. Đây đã là đời xe thứ hai rồi.”
“Chỗ ngồi dễ chịu lắm.”
“Cám ơn cô. Nhưng mà, cô này,”
bác tài hơi nghiêng đầu qua nói. “Có phải cô có chuyện gấp không?”
“Tôi hẹn gặp với người ta ở
Shibuya, vậy nên mới phiền bác chạy lối đường cao tốc Thủ đô.”
“Cô hẹn người ta mấy giờ?”
“Bốn giờ rưỡi,” Aomame đáp.
“Giờ là ba giờ bốn lăm phút rồi.
Thế này thì có lẽ không đến kịp đâu.”
“Tắc đường nghiêm trọng thế sao ạ?”
“Trông tình hình này thì đằng trước
chắc là có tai nạn. Không phải tắc đường bình thường đâu. Từ đầu tới giờ hầu
như chẳng nhúc nhích được tẹo nào.”
Sao bác tài này không thử nghe
tin tức giao thông trên radio nhỉ? Aomame cảm thấy thật kỳ lạ. Đường cao tốc Thủ
đô rơi vào trạng thái tê liệt, hoàn toàn không thể nhúc nhích. Theo lẽ thường,
vào những lúc thế này, tài xế taxi nên chuyển đài để nghe tin tức giao thông mới
phải chứ.
“Bác không nghe tin tức giao
thông cũng biết được ạ?” nàng hỏi.
“Không tin được cái đài giao thông
ấy đâu,” bác tài nói, giọng như thể có chút gì đó trống rỗng xa xăm, “cái thứ ấy
quá nửa là dối trá, Công ty Quản lý Đường bộ chỉ phát những tin tức có lợi cho
bọn họ thôi. Ở đây, lúc này, có chuyện gì đang thực sự diễn ra, chúng ta chỉ có
thể dựa vào cặp mắt của mình để quan sát, dựa vào bộ óc của mình để phán đoán.”
“Thế theo phán đoán của bác thì
tình trạng tắc đường này sẽ không thể sớm kết thúc được ạ?”
“Không thể nhanh được đâu,” bác
tài lặng lẽ gật đầu. “Tôi dám đảm bảo. Mỗi lần tắc nghẹt thế này, đường cao tốc
Thủ đô chính là địa ngục. Cuộc hẹn của cô quan trọng lắm à?”
Aomame nghĩ ngợi giây lát. “Vâng.
Quan trọng lắm. Tôi phải đi gặp mặt khách hàng.”
“Vậy thì gay đấy. Xin lỗi... chắc
là cô không đến kịp được rồi.”
Bác tài nói xong, khẽ xoay cổ mấy
cái như muốn làm mềm các cơ thịt đang căng cứng. Các nếp nhăn sau gáy nhúc
nhích tựa như một loài sinh vật thời thượng cổ. Aomame nhìn động tác ấy trong
vô thức, chợt nhớ đến vật thể sắc bén nhọn hoắt ở đáy chiếc túi đeo chéo qua
vai, lòng bàn tay rịn ra những giọt mồ hôi lấm tấm.
“Vậy tôi phải làm sao bây giờ?”
“Hết cách rồi. Đây là đường cao tốc
Thủ đô, trước khi đến lối ra tiếp theo thì chúng ta chẳng thể làm được gì. Cô
không thể xuống xe giữa đường, chạy đến ga tàu điện gần nhất mà đi tàu điện như
là ở trên phố được.”
“Lối ra tiếp theo ở đâu thế?”
“Ikejiri. Không khéo phải đến chiều
tối mới tới được đó ấy chứ.”
Đến tận chiều tối? Aomame tưởng
tượng tình cảnh mình bị nhốt trong chiếc taxi này đến tận chiều tối. Bản nhạc của
Janáček vẫn tiếp tục vang lên. Những nhạc cụ dây có lắp thêm bộ chặn tiếng chầm
chậm tấu lên như thể muốn vỗ về tâm trạng đang căng thẳng. Cảm giác bị vặn xoắn
nãy giờ đã dịu đi rất nhiều. Cảm giác đó là gì?
Aomame lên taxi ở gần Kinuta, từ
Yoga đi lên tuyến số ba của đường cao tốc Thủ đô. Ban đầu dòng xe cộ còn rất
thông thoáng, nhưng lúc sắp đến Sangenjaya thì đột nhiên tắc đường, chẳng bao
lâu sau thì đã không thể nhúc nhích được nữa. Xe ở làn đường đi ra ngoại ô thì
vẫn thông suốt không chút trở ngại, chỉ có làn đường đi vào trung tâm này ứ trệ
một cách bi kịch. Thông thường, sau ba giờ chiều không phải là khoảng thời gian
làn hướng vào trung tâm của tuyến đường số ba này bị tắc nghẽn, thế nên Aomame
mới bảo tài xế chạy theo lối đường cao tốc Thủ đô.
“Thời gian chờ trên đường cao tốc
Thủ đô thì không bị tính thêm phí đâu,” bác tài nói vào gương chiếu hậu, “vậy
nên cô không cần lo chuyện tiền xe. Nhưng nếu lỡ mất cuộc hẹn thì có vẻ không
được ổn lắm đúng không?”
“Đương nhiên là không ổn rồi.
Nhưng không phải bác vừa nói là không có cách gì hay sao?”
Bác tài liếc nhìn mặt Aomame
trong gương chiếu hậu. Bác ta đeo kính râm sáng màu. Vì ánh sáng không đủ, nên
Aomame không thể nhìn rõ được vẻ mặt của bác ta.
“Chuyện này không phải là không
có cách. Chỉ ngại hơi trái luật một chút, có thể nói là một biện pháp khẩn cấp...
từ đây cũng có thể ngồi xe điện tới Shibuya được.”
“Biện pháp khẩn cấp?”
“Cách này không tiện nói ra trước
mặt người khác cho lắm.”
Aomame không nói lời nào, nheo
nheo mắt đợi bác tài nói tiếp.
“Cô nhìn kìa, phía trước chẳng phải
có một khoảng trống để dừng xe khẩn cấp đấy sao?” bác tài chỉ về phía trước
nói, “ở chỗ đó đó, đoạn có dựng tấm biển quảng cáo lớn của Esso ấy.”
Aomame tập trung nhìn về phía đó
thì thấy bên trái con đường hai làn xe chạy, có một khoảng không gian trống
dành cho các xe gặp sự cố tạm thời dừng đỗ. Đường cao tốc Thủ đô không có vai
đường, vậy nên có khá nhiều chỗ để dừng xe khẩn cấp như thế này, ngoài ra còn
có cả một bốt điện thoại khẩn cấp màu vàng dùng để liên lạc với văn phòng quản
lý đường cao tốc nữa. Lúc này, không có xe nào dừng ở khoảng trống đó cả. Sát
bên cạnh làn xe chạy theo chiều ngược lại, trên nóc tòa nhà ven lề đường, là tấm
biển quảng cáo lớn của hãng dầu Esso, một chú hổ đang toét miệng cười, tay cầm
vòi bơm xăng.
“Thực ra, chỗ ấy có cầu thang dẫn
xuống bên dưới. Lúc gặp phải hỏa hoạn hay động đất lớn, tài xế có thể bỏ xe
theo đường đó mà leo xuống chạy tháo mạng. Bình thường, các công nhân duy tu đường
sá đều leo lên leo xuống qua lối ấy. Ngay gần chỗ xuống có một ga tàu điện tuyến
Tokyu. Lên tàu điện thì chẳng mấy mà đến được Shibuya.”
“Trên đường cao tốc Thủ đô lại có
cầu thang thoát hiểm, thật sự là tôi không biết đâu,” Aomame nói.
“Người bình thường hầu như không
ai biết cả.”
“Nhưng giờ không phải tình hình
khẩn cấp, nếu tự tiện leo xuống cầu thang ấy liệu có vấn đề gì không?”
Bác tài im lặng giây lát rồi nói:
“Ừm, tôi cũng không rõ quy định chi tiết của Công ty Quản lý Đường bộ như thế
nào nữa. Nhưng làm vậy cũng không gây điều gì bất tiện cho người khác, đại khái
chắc là vẫn có thể chấp nhận được. Huống chi, ở chỗ đó lại không có ai canh chừng.
Mặc dù Công ty Quản lý Đường bộ rất đông nhân viên, nhưng người thực sự làm việc
thì lại ít đến tội nghiệp. Đó chính là đặc điểm nổi tiếng nhất của họ mà.”
“Cái cầu thang ấy ra sao ạ?”
“Cái đó à, rất giống với thang
thoát hiểm hỏa hoạn. À, chính là cái loại thang vẫn hay thấy ở đằng sau các tòa
nhà cao tầng kiểu cũ ấy. Không nguy hiểm lắm đâu. Đại khái cao khoảng ba tầng
nhà, cũng không đến nỗi khó leo. Lối vào có một cái rào chắn, nhưng không cao,
chỉ cần cô muốn thì trèo qua cũng không khó khăn gì.”
“Bác đã đi lối ấy bao giờ chưa?”
Không có câu trả lời. Bác tài chỉ
nở một nụ cười điềm đạm trong gương chiếu hậu. Một nụ cười mỉm ẩn chứa vô vàn
ngụ ý.
“Tóm lại là cô tự quyết định
thôi.” Bác tài lấy đầu ngón tay gõ nhẹ lên vô lăng theo điệu nhạc, nói: “Cô cứ
ngồi rỗi ở đây mà thưởng thức thứ âm nhạc tuyệt vời này, đối với tôi cũng chẳng
can hệ gì. Đằng nào thì dù cố gắng mấy chúng ta cũng không thể thoát thân khỏi
đây được rồi. Đã đến nước này thì chỉ còn cách nghe theo ông trời vậy. Tôi chỉ
muốn nói là, nếu cô có chuyện gấp, thì cũng không phải là không có biện pháp khẩn
cấp.”
Aomame hơi nhíu mày, liếc nhìn đồng
hồ đeo tay, rồi ngẩng đầu lên nhìn đám xe hơi chung quanh. Bên phải là một chiếc
Mitsubishi Pajero màu đen, bên ngoài phủ một lớp bụi mỏng màu trắng nhờ nhờ. Gã
thanh niên trẻ ngồi bên ghế lái phụ mở cửa sổ xe, hút thuốc vẻ buồn chán. Gã để
tóc dài, da ngăm ngăm đen, trên người khoác chiếc áo gió màu đỏ rực. Trong
khoang chứa đồ chất mấy tấm ván lướt sóng bẩn thỉu. Phía trước nữa là một chiếc
SAAB 900 màu xám. Cửa sổ kính màu đóng im ỉm, không thể nhìn ra người ngồi bên
trong như thế nào. Thân xe bóng loáng, thậm chí còn soi gương được nếu lại gần.
Phía trước chiếc taxi Aomame đang
ngồi là một chiếc Suzuki Alto màu đỏ đeo biển số quận Nerima có một vết lõm
trên thanh ba đờ sốc phía sau. Một người mẹ trẻ đang cầm lái, đứa bé buồn chán
đứng trên ghế, vặn vẹo hết bên này đến bên kia. Bà mẹ dường như đang bực bội nhắc
nhở đứa bé, nhìn qua cửa sổ bằng kính vẫn có thể nhìn môi đoán xem cô ta nói
gì. Quang cảnh này hoàn toàn giống hệt như mười phút trước đây. Trong mười phút
này, e rằng chiếc xe không nhích được quá mười mét.
Aomame suy đi tính lại, trong đầu
sắp xếp lại các yếu tố theo thứ tự ưu tiên. Nàng không mất nhiều thời gian để
có được kết luận. Bản nhạc của Janáček cũng vừa khéo đến khúc cuối cùng.
Nàng lấy cặp kính râm nhỏ hiệu
Rayban trong túi ra, đeo lên, đoạn rút trong ví ra ba tờ một nghìn yên, đưa cho
bác tài.
“Tôi xuống xe ở đây thôi. Không
thể đến muộn được,” nàng nói.
Bác tài gật đầu, nhận tiền. “Cô
có cần hóa đơn không?”
“Không cần. Bác cũng không cần trả
lại tiền thừa đâu.”
“Cảm ơn cô quá,” bác tài nói,
“hình như gió lớn lắm đấy, cô đi cẩn thận kẻo trượt chân.”
“Tôi sẽ cẩn thận,” Aomame đáp.
“Còn nữa,” bác tài nhìn vào kính
chiếu hậu nói, “có một chuyện mong cô nhớ kỹ: sự vật chẳng bao giờ giống vẻ bề
ngoài của nó đâu.”
Sự vật chẳng bao giờ giống vẻ bề
ngoài của nó. Aomame lặp lại một lần trong óc, hơi nhướng mày lên. “Thế là ý gì?”
Bác tài đắn đo câu chữ, đoạn nói:
“Ý là, giờ cô sắp đi làm một việc không tầm thường, chẳng phải vậy sao?
Giữa ban ngày ban mặt, trèo xuống theo lối thang thoát hiểm trên đường cao tốc
Thủ đô, người bình thường không làm những chuyện như vậy. Đặc biệt là phụ nữ lại
càng không.”
“Có lẽ là vậy,” Aomame nói.
“Thế thì, sau khi làm chuyện đó,
nói thế nào nhỉ, có lẽ những quang cảnh thường ngày cô nhìn thấy sẽ hơi khác
lúc bình thường một chút. Tôi cũng từng có kinh nghiệm như vậy rồi. Nhưng mà, đừng
để vẻ bề ngoài đánh lừa. Hiện thực lúc nào cũng chỉ có một mà thôi.”
Aomame nghĩ ngợi giây lát về những
điều bác tài vừa nói. Trong lúc nàng mải suy nghĩ, bản nhạc của Janáček cũng vừa
kết thúc. Khán giả lập tức vỗ tay không ngớt. Có lẽ đài phát lại một buổi thu âm
chương trình hòa nhạc ở đâu đó. Trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt kéo dài, đâu đó
còn nghe thấy cả tiếng reo hò nữa. Trước mắt Aomame hiện ra hình ảnh người nhạc
trưởng đang mỉm cười cúi mình mấy lượt trước các khán giả đã bắt đầu đứng lên
khỏi chỗ ngồi. Ông ngẩng mặt, giơ cao tay, bắt tay nghệ sĩ violon một, rồi lại
xoay người lại, giơ hai cao hai cánh tay lên khen ngợi toàn thể dàn nhạc, tiếp
đó ông lại quay về phía khán giả, lại cúi mình thật sâu thêm một lần nữa. Nghe
một lúc lâu, dần dần cảm giác không giống như tiếng vỗ tay nữa, mà giống như là
đang lắng nghe âm thanh dai dẳng không dứt của một trận bão cát trên sao Hỏa.
“Hiện thực lúc nào cũng chỉ có một
mà thôi,” bác tài chầm chậm lặp lại, như thể đang gạch chân một đoạn quan trọng
trong cuốn sách.
“Đương nhiên rồi,” Aomame nói.
Đúng như lời bác tài nói. Một vật thể, trong một thời gian, chỉ có thể tồn tại ở
một địa điểm. Điều này đã được Einstein chứng minh rồi. Hiện thực bao giờ cũng
vắng lặng, bao giờ cũng cô độc.
Aomame chỉ vào dàn hifi trên xe.
“Chất lượng âm thanh tốt lắm.”
Bác tài gật đầu. “Cái ông viết bản
nhạc này tên là gì ấy nhỉ?”
“Janáček.”
“Janáček,” bác tài lặp lại, tựa hồ
như đang học thuộc một ám hiệu quan trọng, sau đó gạt cái lẫy mở cửa sau: “Chúc
thuận buồm xuôi gió. Hy vọng cô đến kịp giờ hẹn.”
Aomame xách chiếc túi đeo vai to
tướng, bước xuống xe. Tiếng vỗ tay trong radio vẫn vang lên không ngớt. Nàng cẩn
thận đi men theo rìa đường cao tốc về phía khoảng trống dừng xe khẩn cấp cách đấy
chừng mười mét. Mỗi khi làn đường ngược chiều có xe tải trọng lớn chạy qua, mặt
đường lại khe khẽ rung lên dưới đôi giày cao gót của nàng. Nói đúng ra thì giống
những con sóng, tựa như trên mặt boong một chiếc hàng không mẫu hạm đang lênh
đênh giữa biển khơi cuộn trào sóng dữ.
Cô bé con ngồi trên chiếc Suzuki
Alto thò gương mặt nhỏ nhắn ra khỏi cửa sổ bên ghế phụ, miệng há hốc. Nó nhìn
Aomame, sau đó ngoảnh đầu lại hỏi mẹ: “Mẹ, mẹ ơi, cô kia đang làm gì thế? Cô ấy
đi đâu thế? Con cũng muốn ra ngoài. Mẹ ơi, mẹ, con muốn ra ngoài kia cơ. Mẹ ơi,
mẹ ơi!” Cô bé nằng nặc đòi. Nhưng bà mẹ chỉ lẳng lặng lắc đầu, liếc nhìn Aomame
với ánh mắt trách móc. Đó là âm thanh duy nhất phát ra ở xung quanh, cũng là phản
ứng duy nhất đập vào mắt. Những người lái xe khác đều chỉ hút thuốc, nhíu mày
cau mặt, dõi mắt nhìn theo nàng đang không hề do dự bước đi giữa hàng xe dài dằng
dặc và vách chắn, như thể đang nhìn một vật thể gì đó chói mắt. Dường như họ
không nôn nóng phán đoán. Dẫu xe không thể nhúc nhích, nhưng có người đi bộ
trên đường cao tốc Thủ đô thì không phải là chuyện thường thấy. Muốn tri giác
và chấp nhận nó như một hiện thực, ít nhiều cũng cần có thời gian. Và hơn nữa,
người đi bộ ấy còn là một cô gái trẻ mặc mini jupe, chân đi giày cao gót.
Aomame thu cằm nhìn thẳng về phía
trước, lưng ưỡn thẳng, cảm nhận những ánh mắt xung quanh đang nhìn mình bằng
làn da, bước chân đi kiên định, mạnh mẽ. Đôi giày cao gót hiệu Charles Jourdan
màu hạt dẻ gõ xuống mặt đường tạo nên những âm thanh khô khốc, gió thổi hất vạt
áo khoác ngoài của nàng lên. Đã vào tháng Tư, nhưng gió vẫn lạnh buốt như thế, ẩn
chứa bên trong nó một dự cảm hung bạo. Nàng khoác bên ngoài bộ vest dạ mỏng màu
xanh hiệu Junko Shimada một chiếc áo gió màu be, vai đeo túi da đen. Mái tóc
buông xuống vai được cắt tỉa rất gọn gàng, chăm sóc kỹ lưỡng. Aomame không đeo
món đồ trang sức nào. Nàng cao một mét sáu tám, không một chút thịt thừa, mọi
cơ bắp đều trải qua những rèn luyện công phu, thế nhưng, cách một lần áo gió
người khác không thể nào hay biết được điều này.
Tỉ mỉ quan sát gương mặt nàng từ
chính diện, sẽ phát hiện ra kích cỡ hai tai nàng có sự khác biệt rất lớn. Tai
trái to hơn hẳn tai phải, và hình dạng cũng hơi méo mó. Nhưng không ai để ý đến
điều này, vì đôi tai luôn ẩn trong mái tóc. Cái miệng lúc nào cũng mím chặt
thành một đường thẳng, ám chỉ một tính cách không hề dễ gần. Chiếc mũi nhỏ nhắn,
xương gò má hơi nhô lên, vầng trán rộng, đôi lông mày dài và thẳng, mỗi nét lại
góp thêm một phiếu cho khuynh hướng ấy. Nhưng gương mặt trái xoan cũng khá cân
đối. Tuy rằng sở thích mỗi người mỗi khác, nhưng về cơ bản có thể nói nàng là một
phụ nữ đẹp. Vấn đề là nét mặt Aomame hầu như không biểu cảm. Cặp môi mím chặt ấy,
trừ trường hợp bất đắc dĩ, còn thì tuyệt đối không hé một nụ cười. Đôi mắt lạnh
lùng và chăm chú như một giám sát viên xuất sắc trên boong tàu. Vì vậy, gương mặt
nàng hoàn toàn không để lại cho người khác một ấn tượng gì rõ rệt. Trong rất
nhiều trường hợp, vẻ tự nhiên và sự lịch lãm trong những cử động của nét mặt là
thứ thu hút sự chú ý và quan tâm của người khác hơn là sự xấu đẹp của gương mặt
trong trạng thái bất động.
Hầu hết mọi người đều không nắm bắt
được tướng mạo của Aomame. Chỉ cần rời ánh mắt đi chỗ khác là không thể miêu tả
được gương mặt nàng trông như thế nào nữa. Nói cho đúng, gương mặt của Aomame
chắc chắn là một gương mặt có cá tính, nhưng không hiểu sao những đặc trưng của
từng chi tiết lại không hề để lại ấn tượng gì trong óc người khác. Theo nghĩa
đó, nàng giống như một loài côn trùng ngụy trang. Thay đổi màu sắc và hình dạng
để hòa lẫn vào môi trường xung quanh, cố gắng không làm người khác chú ý, không
để người khác có thể dễ dàng nhớ đến mình, đây chính là điều mà Aomame mong muốn.
Từ bé, nàng đã tự bảo vệ mình theo cách ấy.
Nhưng nếu vì lý do nào đó mà phải
nhăn mặt, thì gương mặt lạnh lùng của Aomame sẽ thay đổi hoàn toàn. Cơ mặt sẽ
co rúm lại theo các hướng khác nhau, khiến cho sự méo mó của hai bên má bị cường
điệu đến cùng cực, những nếp nhăn hằn sâu ở nhiều chỗ, đồng tử vội vã thu lại,
mũi và miệng biến dạng một cách thô bạo, cái cằm vẹo đi, môi vểnh lên, để lộ những
chiếc răng to trắng. Như thể tấm mặt nạ bị đứt dây buộc đột nhiên tuột ra khỏi
gương mặt, trong chớp mắt nàng biến thành một con người hoàn toàn khác. Bất cứ
ai nhìn thấy cũng đều không khỏi hồn xiêu phách lạc trước sự biến đổi đến ớn lạnh
ấy. Đó là một cú nhảy bất ngờ từ sự hoàn toàn không thể nắm bắt xuống vực sâu của
sợ hãi. Vì vậy, nàng luôn thận trọng, tuyệt đối không chau mày trước người lạ.
Nàng chỉ thay đổi gương mặt khi ở một mình, hoặc lúc đe dọa gã đàn ông mà nàng
không ưa.
Đến được khoảng trống dùng để đỗ
xe khẩn cấp, nàng dừng bước nhìn bốn phía tìm cầu thang thoát hiểm. Nàng tìm thấy
tức thì. Đúng như bác tài đã nói, lối vào cầu thang có hàng rào sắt cao hơn
hông một chút, cửa khóa chặt. Mặc mini jupe bó sát người mà leo qua hàng rào sắt
này thì hơi phiền phức một chút, nhưng chỉ cần không để ý đến ánh mắt của người
khác thì không có gì là khó. Nàng không hề do dự tuột đôi giày cao gót ra, nhét
vào túi đeo vai. Đi chân trần thì cái quần tất này coi như vứt đi, nhưng những
thứ như thế này mua ở cửa hàng nào chẳng được.
Mọi người lặng lẽ dõi theo nàng cởi
giày cao gót, rồi cởi áo khoác ngoài. Từ trong cửa sổ để mở của chiếc Toyota
Celica màu đen dừng ngay phía trước vẳng ra tiếng hát cao vút của Michael
Jackson, bài Billie Jean, như để làm nhạc nền cho cảnh tượng đó. Nàng thấy
mình như đang đứng trên sân khấu múa thoát y. Cũng được. Cứ ngắm cho thỏa thích
đi. Chắc các vị đang phát ngán với cảnh tắc đường này phải không? Nhưng, xin
thưa, tôi chỉ cởi đến đây thôi. Hôm nay chỉ có giày cao gót và áo khoác. Xin lỗi
nhé.
Aomame xốc lại túi lên vai cho khỏi
rơi. Chiếc Toyota Crown Royal Saloon nàng vừa ngồi vẫn ở đằng xa, dưới ánh nắng
chiều rực rỡ, tấm kính chắn gió phản chiếu những tia sáng chói mắt như một tấm
gương. Không thấy rõ mặt bác tài, nhưng chắc chắn là bác ta đang nhìn về phía
này.
Đừng để vẻ bề ngoài đánh lừa. Hiện
thực lúc nào cũng chỉ có một mà thôi.
Aomame hít sâu một hơi, rồi lại
thở hắt ra thật dài. Sau đó, nàng dỏng tai theo tiết tấu của Billie Jean,
và leo qua hàng rào sắt. Chiếc mini jupe bị vén lên đến tận hông. Mặc xác, nàng
thầm nhủ. Muốn nhìn thì nhìn đi. Dù nhìn thấy cái bên trong váy, cũng đừng mơ
nhìn thấu được con người tôi. Huống hồ, đôi chân thon dài đẹp đẽ ấy chính là chỗ
khiến Aomame cảm thấy tự hào nhất trên thân thể mình.
Sang đến bên kia hàng rào sắt,
Aomame sửa lại vạt váy, phủi bụi trên tay, mặc lại áo khoác, đeo lại túi xách,
đẩy gọng kính râm lên một chút. Cầu thang thoát hiểm đã ở ngay phía trước, một
cái cầu thang sắt sơn màu ghi. Loại cầu thang đơn giản, thiết thực, chỉ quan
tâm đến khía cạnh công năng. Nó không được làm ra để dành cho các cô gái đi
chân trần với độc chiếc quần tất và mặc mini jupe bó sát người lên xuống. Junko
Shimada cũng chẳng thiết kế bộ Âu phục này để leo lên leo xuống cầu thang thoát
hiểm trên tuyến số ba đường cao tốc Thủ đô. Những chiếc xe tải cỡ lớn đi bên
làn xe ngược chiều khiến cầu thang rung lên bần bật. Gió thổi vù vù qua khe giữa
những thanh nan bằng sắt. Có điều, đằng nào thì cầu thang cũng ở đó rồi, việc
còn lại chỉ là leo xuống mặt đất mà thôi.
Aomame ngoảnh đầu lại phía sau một
lần cuối, điệu bộ như một người vừa kết thúc phần diễn thuyết của mình nhưng vẫn
lưu lại trên bục phát biểu chờ nghe khán giả đặt câu hỏi, đưa ánh mắt từ bên
trái sang bên phải, rồi lại từ bên phải sang bên trái nhìn những hàng xe chật cứng
trên đường. Từ nãy đến giờ, hàng xe dài ấy vẫn chưa nhích được thêm chút nào.
Người ta bị vây khốn ở đó, không biết làm gì, chỉ biết giương mắt lên quan sát
từng động tác nhỏ nhặt nhất của nàng. Bọn họ đều lấy làm băn khoăn tự hỏi, rốt
cuộc người phụ nữ này đang định làm gì vậy nhỉ? Những ánh mắt hàm chứa cả sự tò
mò lẫn vẻ không hứng thú, cả sự ngưỡng mộ lẫn vẻ coi khinh cùng đổ dồn lên
Aomame đang leo sang phía bên kia hàng rào sắt. Tình cảm của họ giống như một
cán cân không ổn định, không nghiêng hẳn về bên nào, mà cứ đung đưa qua lại. Một
sự im lặng nặng nề buông xuống, bao trùm xung quanh. Không ai giơ tay đặt câu hỏi
(đương nhiên, dù có ai hỏi, Aomame cũng chẳng định trả lời). Mọi người chỉ lặng
lẽ chờ đợi một cơ duyên mãi mãi không bao giờ ghé tới. Aomame hơi cúi đầu, cắn
môi dưới, đánh giá bọn họ một lượt từ phía sau cặp kính râm màu xanh sẫm.
Tôi là ai, đang định đi đâu, làm
gì, chắc chắn các người không thể nào tưởng tượng nổi. Aomame nói với họ như thế
với đôi môi không hề mấp máy. Các người bị giam cầm ở đây, chẳng đi đâu nổi.
Không thể tiến lên, cũng không thể rút lui. Nhưng tôi thì khác. Tôi có việc cần
làm cho xong. Có sứ mệnh cần phải hoàn thành. Thế nên, tôi xin đi trước.
Cuối cùng, Aomame rất muốn hướng
về tất cả đám người ở đây mà nhăn mặt một cái, nhưng khó khăn lắm nàng cũng tự
kiềm chế được. Nàng không còn thời gian để làm những chuyện vô vị ấy nữa. Một
khi gương mặt đã biến đổi, sẽ mất nhiều thời gian mới khôi phục lại được vẻ ban
đầu.
Aomame quay lưng lại với đám khán
giả không lời, sau đó bắt đầu leo xuống bằng những bước thận trọng theo cầu
thang thoát hiểm, lòng bàn chân cảm thấy hơi lạnh thấu xương của sắt thép. Cơn
gió lạnh đầu tháng Tư làm mái tóc nàng đung đưa, thi thoảng lại để lộ ra vành
tai trái dị dạng.
Chương 2:
Tengo
Một ý tưởng nho nhỏ khác
Ký ức sớm nhất của Tengo là hồi anh một tuổi rưỡi. Mẹ anh
cởi áo sơ mi, tuột dải dây trên vai chiếc váy lót dài màu trắng xuống, để một
người đàn ông không phải cha anh mút vú. Trên giường trẻ sơ sinh có một đứa bé
trai, có lẽ đó là Tengo. Anh quan sát với ánh mắt của kẻ ngoài cuộc. Hay đó là
người anh em song sinh với anh? Không, không phải. Đứa bé nằm đó có lẽ chính là
Tengo hồi một tuổi rưỡi. Trực giác cho anh biết điều đó. Đứa bé ấy nhắm mắt, thở
nhẹ và đang ngủ. Đối với Tengo, đây là ký ức ban sơ nhất của đời anh. Cảnh tượng
diễn ra trong chừng mười giây ấy đã in hằn rõ nét lên bức tường của ý thức
trong anh. Không có trước, mà cũng chẳng có sau. Như đỉnh tháp trên con phố bị
nhấn chìm trong nước lũ, ký ức ấy trồi lên lẻ loi, đơn độc giữa mặt nước đục ngầu.
Mỗi lần có cơ hội, Tengo đều hỏi
thăm những người xung quanh: cảnh tượng sớm nhất trong đời mà anh còn nhớ là
năm mấy tuổi? Với rất nhiều người, đó là hồi bốn hoặc năm tuổi. Sớm nhất cũng
không quá ba tuổi. Sớm hơn nữa thì chẳng có ai. Có vẻ như ít nhất cũng phải
trên ba tuổi, trẻ con mới có thể quan sát và nhận thức cảnh tượng xung quanh
mình như những sự việc có tính logic nhất định. Ở giai đoạn trước đó, tất cả những
cảnh tượng đập vào mắt đều chỉ là trạng thái hỗn độn không thể nào lý giải. Thế
giới giống như một bát cháo loãng, dinh dính sền sệt, không hình hài, không sao
nắm bắt được. Chúng còn chưa kịp hình thành ký ức trong não bộ thì đã lướt vèo
qua cửa sổ rồi.
Đương nhiên một đứa trẻ mới tuổi
rưỡi đầu không thể nào suy xét được ý nghĩa của cái cảnh tượng người đàn ông
không phải cha mình mút vú mẹ mình ấy. Điều đó là rõ ràng. Vì vậy, nếu ký ức
này của Tengo là chuẩn xác thì chắc là anh chẳng suy xét gì, mà chỉ in lại cảnh
tượng như nó vốn có vào võng mạc mà thôi. Cũng giống như máy ảnh coi vật thể chỉ
đơn thuần là sự kết hợp giữa ánh sáng và bóng, rồi ghi lại một cách máy móc lên
tấm phim. Thế rồi, cùng với sự trưởng thành của ý thức, hình ảnh được lưu trữ
và cố định lại trong đầu ấy dần dần được phân tích, được trao cho ý nghĩa. Thế
nhưng, chuyện ấy rốt cuộc có xảy ra trong hiện thực hay không? Não bộ một đứa
trẻ sơ sinh có khả năng lưu trữ một hình ảnh như vậy hay không?
Hay đây chỉ là một ký ức giả? Mọi
thứ đều do ý thức sau này của anh tùy tiện hư cấu ra, vì một mục đích và ý đồ
nào đó? Về khả năng này, Tengo cũng từng suy nghĩ rất kỹ càng, và đi đến kết luận
“e là không phải”. Nếu nói đó là hư cấu thì ký ức ấy quá đỗi rõ ràng, quá đỗi
có sức thuyết phục. Ánh sáng, mùi vị, nhịp tim trong ký ức đó: những cảm giác
thực tại ấy đều khó mà từ chối và không thể lầm lẫn được. Hơn nữa, nếu giả định
là cảnh tượng ấy có thực thì rất nhiều sự việc sẽ có thể giải thích được rành mạch
rõ ràng, bất luận là trên góc độ logic hay cảm tính.
Đoạn hình ảnh rõ nét kéo dài chừng
mười giây ấy thường bất ngờ hiện lên trước mắt anh. Không có dấu hiệu báo trước,
mà cũng chẳng hề do dự. Thậm chí một tiếng gõ cửa cũng không. Nó đến với Tengo
đường đột, giữa lúc anh ngồi trên xe điện, lúc anh đang viết công thức toán lên
bảng, lúc anh ăn cơm, lúc anh đang ngồi đối diện với ai đó chuyện trò (như lần
này chẳng hạn). Tựa như một cơn sóng thần im lặng, nhưng vô phương chống đỡ, cuồn
cuộn ập tới. Chưa kịp định thần thì nó đã lù lù ở ngay trước mặt khiến tay chân
anh hoàn toàn tê cứng. Dòng chảy thời gian đột nhiên dừng lại. Bầu không khí
xung quanh loãng đi, không thể nào hít thở một cách bình thường được. Mọi người
và sự vật xung quanh đều không còn liên quan đến anh nữa. Bức tường chất lỏng
cao ngút ấy hoàn toàn nuốt chửng anh. Mặc dù cảm thấy thế giới đã bị khóa trong
đêm đen, nhưng ý thức anh không vì thế mà mơ hồ. Nó chỉ đang bị bẻ ghi. Ý thức,
xét một cách cục bộ, thậm chí còn trở nên nhanh nhạy hơn trước. Không sợ hãi.
Nhưng lại không sao mở mắt ra được. Mí mắt bị khóa chặt. Tiếng động xung quanh
xa dần. Thế rồi hình ảnh quen thuộc ấy hết lần này đến lần khác được hắt lên
màn chiếu của ý thức. Mồ hôi túa ra khắp người. Có thể cảm thấy được phần áo
lót dưới nách đã ướt sũng. Toàn thân bắt đầu run lên nhè nhẹ. Tim đập nhanh
hơn, mạnh hơn.
Nếu có người khác ở đó, Tengo sẽ
làm bộ như đột nhiên bị choáng. Mà trên thực tế thì nó rất giống với cảm giác đột
nhiên bị choáng. Chỉ một lúc sau, tất cả sẽ trở lại bình thường. Anh lấy khăn
tay trong túi ra, che miệng lại, ngồi bất động. Rồi anh giơ tay lên tỏ ý: không
sao, không cần lo lắng. Tình trạng này có lúc kết thúc trong vòng ba mươi giây,
cũng có khi kéo dài hơn một phút. Trong khoảng thời gian đó, hình ảnh sẽ tự động
chiếu đi chiếu lại, nếu so sánh với băng video thì giống như là được đặt ở trạng
thái repeat vậy. Mẹ anh buông vai chiếc váy lót dài xuống, một người đàn ông lạ
đang bú mút núm vú vươn cao của bà. Mẹ anh nhắm mắt, há miệng thở hổn hển. Mùi
hương thân quen của sữa mẹ lan tỏa nhè nhẹ. Đối với một đứa trẻ sơ sinh, khứu
giác là giác quan thính nhạy nhất. Khứu giác cho biết rất nhiều điều. Đôi khi
là tất cả. Không có âm thanh gì. Không khí là một thứ dịch thể dính nhớp mơ hồ.
Thứ nghe thấy được chỉ là tiếng tim đập yếu ớt của chính bản thân mình.
Nhìn đi! bọn họ nói. Chỉ được
nhìn cảnh này thôi! bọn họ nói. Mày chỉ có thể ở đây, không thể đi đâu được! bọn
họ nói. Những thông điệp ấy lặp đi lặp lại rất nhiều lần.
Cơn “bộc phát” lần này kéo dài rất
lâu. Tengo nhắm nghiền hai mắt, cũng như những lần trước, lấy khăn tay bịt miệng,
nghiến chặt hàm răng. Không hiểu tình trạng ấy kéo dài bao lâu. Anh chỉ có thể
căn cứ vào mức độ mệt mỏi của cơ thể mà ước đoán khi mọi chuyện đã đi qua. Thể
lực tiêu hao khủng khiếp. Lần đầu tiên anh cảm thấy mệt mỏi như vậy. Phải mất một
lúc lâu anh mới mở mắt ra được. Mặc dù ý thức đã tranh thủ giành lại sự tỉnh
táo từ trước, nhưng cơ thịt và hệ thống nội tạng lại từ chối không tuân theo mệnh
lệnh của não bộ. Giống như là lũ động vật ngủ đông bị nhầm lẫn mùa vụ, tỉnh dậy
sớm hơn so với dự định vậy.
“Này, Tengo!” Có người gọi anh từ
lúc nãy. Âm thanh ấy dường như mơ hồ vẳng lên từ dưới đáy sâu trong hang động.
Tengo nhớ ra đó chính là tên mình. “Sao thế? Vẫn bệnh cũ hả? Có ổn không?” âm
thanh ấy nói. Lần này thì đã hơi gần hơn một chút.
Cuối cùng Tengo cũng mở mắt, điều
chỉnh lại tiêu điểm, chăm chú nhìn xuống bàn tay phải mình đang bám chặt mép
bàn. Xác định lại rằng thế giới này vẫn tồn tại, còn chưa phân rã, bản thân anh
cũng vẫn tồn tại và là chính anh. Tuy rằng vẫn còn chút cảm giác tê liệt, nhưng
đó đích thực là bàn tay phải của anh. Còn có cả mùi mồ hôi nữa. Thứ mùi dữ dội
kỳ lạ thường ngửi thấy khi đứng trước lồng nhốt động vật trong vườn bách thú.
Nhưng không nghi ngờ gì cả, đó chính là mùi của anh tỏa ra.
Cổ họng khô khốc. Tengo với tay cầm
chiếc cốc thủy tinh trên bàn ăn lên, cẩn thận không để nước bắn ra ngoài, uống
hết nửa cốc. Nghỉ ngơi giây lát, điều hòa lại nhịp thở, sau đó anh uống nốt nửa
cốc còn lại. Ý thức dần trở về chỗ cũ, cảm giác của thân thể cũng hồi phục lại
bình thường. Anh đặt cốc xuống, lấy khăn tay lau khóe miệng.
“Xin lỗi. Tôi ổn rồi,” anh nói,
đoạn xác nhận lại người ngồi đối diện với mình là Komatsu. Hai người đang bàn
công chuyện trong một quán cà phê gần ga Shinjuku. Những tiếng nói chuyện xung
quanh nghe cũng đã bình thường trở lại. Hai người ngồi bàn bên cạnh đang nhìn về
phía này như thể ngờ vực có chuyện gì xảy ra. Cô nhân viên phục vụ nét mặt lộ vẻ
bất an đứng ở gần đó. Có lẽ cô lo anh sẽ nôn ọe ra ghế. Tengo ngẩng mặt lên, mỉm
cười với cô, đoạn khẽ gật gật đầu. Như thể muốn nói: không có gì, không cần lo
lắng.
“Liệu có phải một loại bộc phát
gì không?” Komatsu hỏi.
“Không nghiêm trọng lắm đâu. Chỉ
là cảm giác choáng váng khi đột nhiên đứng dậy thôi. Chỉ có điều là hơi dữ dội,”
Tengo nói. Giọng nói nghe vẫn không giống của anh lắm. Có điều cũng đã gần gần
là của anh rồi.
“Lúc lái xe mà bị như vậy thì phiền
phức lớn đấy,” Komatsu nhìn thẳng vào mắt Tengo, nói.
“Tôi không lái xe.”
“Vậy là tốt nhất đấy. Tôi có người
bạn bị dị ứng phấn hoa sam, đang lái xe thì đột nhiên hắt xì hơi liên tục, rồi
cứ thế đâm thẳng vào cột điện. Nhưng mà, Tengo này, tình trạng của anh không
đơn giản chỉ là hắt xì hơi thôi đâu. Lần đầu tiên thì thực đúng là làm tôi sợ
giật thót cả mình. Nhưng đến lần thứ hai thì ít nhiều gì cũng quen hơn một chút
rồi.”
“Tôi xin lỗi,” Tengo cầm ly cà
phê lên, nhấp một ngụm thứ bên trong nó. Chẳng có mùi vị gì cả. Chỉ thấy một luồng
chất lỏng âm ấm chảy qua cổ họng mà thôi.
“Có cần bảo họ mang thêm cốc nước
nữa không?” Komatsu hỏi.
Tengo lắc lắc đầu. “Không cần
đâu. Tôi ổn rồi mà.”
Komatsu lấy trong túi áo ra một
bao Marlboro, ngậm một điếu, rồi dùng bao diêm của quán châm lửa. Đoạn, liếc
nhanh qua chiếc đồng hồ đeo tay.
“Phải rồi, vừa nãy chúng ta nói tới
đâu rồi nhỉ?” Tengo hỏi. Cần phải nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường mới
được.
“Ừ đấy, nói tới đâu rồi nhỉ?”
Komatsu nói, ngước mắt nhìn lên ngẫm nghĩ, hoặc là làm bộ như đang ngẫm nghĩ. Rốt
cuộc là loại nào, Tengo cũng không rõ nữa. Trong động tác và lời ăn tiếng nói của
Komatsu đều chứa ít nhiều chất kịch. “À, phải rồi, tôi đang định nói về
cô gái tên là Fukaeri. Và cả Nhộng không khí nữa.”
Tengo gật gật đầu. Đang nói chuyện
về Fukaeri và Nhộng không khí. Đang định trình bày với Komatsu về chuyện
đó, thì đột nhiên lên cơn “bộc phát” khiến câu chuyện gián đoạn giữa chừng.
Tengo lấy trong túi xách ra một tập phô tô bản thảo tiểu thuyết, đặt lên bàn.
Anh đặt bàn tay lên xấp bản thảo, xác nhận lại cảm giác ấy một lần nữa.
“Trên điện thoại tôi đã nói qua với
anh rồi. Ưu điểm lớn nhất của tập bản thảo Nhộng không khí này là không
bắt chước bất cứ ai. Là tác phẩm của cây bút mới, mà không hề có phần nào thể
hiện sự ‘muốn giống ai đó’, điều này rất hiếm thấy,” Tengo cẩn trọng lựa chọn từ
ngữ. “Đúng là giọng văn thô ráp, không tinh tế tỉ mỉ, từ ngữ chọn dùng cũng rất
vụng về. Ngay từ cái tên, đã lẫn lộn giữa ‘nhộng’ với ‘kén’ rồi. Nếu tập trung
vào điều đó, tôi nghĩ có thể liệt kê được vô số khuyết điểm khác. Có điều, ít
nhất câu chuyện này cũng có chỗ hấp dẫn. Tuy rằng toàn bộ câu chuyện là hư cấu,
nhưng các chi tiết nhỏ lại được miêu tả hết sức chân thực. Cảm giác rất cân bằng.
Tôi không biết dùng những từ kiểu như tính độc đáo hay tính tất yếu
ở đây có thích đáng hay không nữa. Nếu có người nói còn lâu mới đạt tới trình độ
đó thì có lẽ cũng đúng. Nhưng mà, sau khi cố gắng đọc hết, sẽ thấy đọng lại một
cảm giác sâu lắng. Cho dù đó là một thứ cảm giác kỳ dị không thể diễn đạt thành
lời, khiến người ta thấy không được thoải mái cho lắm.”
Komatsu không nói lời nào, chỉ
chăm chú nhìn Tengo, muốn anh nói kỹ lưỡng hơn.
Tengo tiếp tục: “Tôi không mong
chỉ vì văn chương còn non nớt vụng về mà để tác phẩm này dễ dàng bị loại ngay từ
vòng sơ khảo. Làm việc này được mấy năm, tôi đã đọc vô số tác phẩm gửi đến dự
thi. Bảo là đọc, nhưng nói là lướt qua thì đúng hơn. Có tác phẩm viết tương đối
tốt, cũng có những thứ chẳng đáng một xu... đương nhiên, loại thứ hai chiếm phần
áp đảo. Nhưng mà tóm lại là, tôi đã đọc rất nhiều tác phẩm, nói thế nào thì
nói, tập bản thảo Nhộng không khí này là cái đầu tiên khiến tôi có cảm
xúc. Đây cũng là lần đầu tiên tôi đọc xong rồi còn muốn đọc lại từ đầu một lượt
nữa.”
Komatsu “ừm” một tiếng, rồi phà
ra một hơi thuốc vẻ chẳng hề có hứng thú gì, nhếch mép lên. Nhưng với kinh nghiệm
giao du không thể nói là ít với Komatsu, Tengo không dễ bị nét mặt bề ngoài của
anh ta đánh lừa. Người này thường hay biểu lộ nét mặt hoàn toàn chẳng liên
quan, thậm chí còn trái ngược với ý nghĩ thực sự trong đầu mình. Vì vậy, Tengo
vẫn nhẫn nại chờ đối phương lên tiếng.
“Tôi cũng đọc qua rồi,” Komatsu
ngưng lại một lúc mới mở miệng nói tiếp: “Nhận được điện thoại của anh, tôi lập
tức lấy bản thảo ra đọc một lượt. Hừm, viết cũng tệ thật. Trợ từ dùng loạn hết
cả lên, chẳng hiểu câu văn có ý gì nữa. Trước khi viết tiểu thuyết, tốt nhất là
nên đi học lại cách viết câu văn cho ra hồn cái đã.”
“Có điều vẫn đọc được đến hết. Phải
không?”
Komatsu mỉm cười. Nụ cười như thể
moi ra từ sâu trong hốc ngăn kéo thường ngày không mở ra được. “Đúng vậy. Cậu
nói không hề sai. Đọc đến hết dòng cuối cùng. Chính tôi cũng giật mình kinh ngạc.
Mấy cái tác phẩm dự thi Tác giả mới này tôi chưa bao giờ đọc từ đầu đến
cuối cả. Huống hồ, lại còn đọc lại một số đoạn nữa chứ. Hiếm cứ như là hiện tượng
các hành tinh cùng nằm trên một đường thẳng ấy. Điểm này thì tôi thừa nhận.”
“Chứng tỏ rằng nó ‘cũng có cái gì
đó’. Hay là tôi sai?”
Komatsu đặt điếu thuốc xuống gạt
tàn, đưa ngón giữa bàn tay phải lên gại gại cánh mũi. Nhưng không trả lời câu hỏi
của Tengo.
Tengo nói: “Cô bé này mới mười bảy
tuổi, đang học trung học. Chẳng qua cô bé chưa được rèn luyện cách đọc và viết
tiểu thuyết thôi. Muốn giành được giải Tác giả mới lần này, có lẽ đúng
là rất khó. Nhưng mà cũng đáng được giữ lại đến vòng chung khảo chứ. Chỉ cần một
câu nói của anh là có thể quyết định được, đúng không? Có lần này thì sẽ có lần
sau mà.”
Komatsu lại “ừm” lên một tiếng nữa,
ngáp dài một cái vẻ rất vô vị, sau đó uống một ngụm nước. “Này, Tengo, cậu cứ
nghĩ mà xem. Thử để thứ văn chương vụng về này vào đến vòng cuối đi. Mấy tay
thành viên hội đồng giám khảo lại chẳng nhảy dựng lên ấy à. Không khéo còn nổi
trận lôi đình nữa chứ. Chắc chắn là không chịu đọc đến hết đâu. Bốn giám khảo đều
là tác giả đang cầm bút. Người nào cũng bận rộn. Họ chỉ lướt qua một hai trang
đầu rồi vứt sang một bên là cái chắc. Mà lại còn nói: Thứ này có khác nào bài
văn của bọn trẻ con tiểu học đâu chứ! Dù cho tôi có chịu gật đầu chấp nhận, hết
lòng nhiệt tình mà giải thích đây là một miếng ngọc đẹp đang đợi được mài giũa,
liệu có ai chịu tin không? Mà cho dù tôi có nói được đi chăng nữa thì tôi cũng
muốn để dành suất ấy cho tác phẩm nào có hy vọng hơn.”
“Nói vậy là, anh nhất định loại
nó à?”
“Tôi có nói thế đâu,” Komatsu vừa
gại gại cánh mũi vừa nói. “Về tác phẩm này, tôi có một ý tưởng nho nhỏ khác.”
“Một ý tưởng nho nhỏ khác?” Tengo
nhắc lại. Anh nghe ra được chút ý vị chẳng lành trong câu nói đó.
“Cậu nói, trông đợi ở tác phẩm
sau,” Komatsu nói, “tôi đương nhiên cũng muốn kỳ vọng. Bỏ thời gian ra chuyên
tâm bồi dưỡng tác giả trẻ chắc chắn là niềm vui lớn của người làm biên tập. Ngước
mắt lên bầu trời đêm quang đãng, phát hiện ra ngôi sao mới trước tất cả những
người khác là điều khiến người ta hưng phấn. Nhưng nói thực lòng, tôi cảm thấy
cô bé này khó có lần sau. Tuy tôi bất tài, nhưng cũng ăn cơm nghề này hai chục
năm rồi. Trong thời gian đó cũng đã tận mắt chứng kiến đủ các loại tác giả ồn ã
xuất hiện rồi lại lặng lẽ ra đi. Ít nhất cũng nhìn ra được người nào có lần sau
người nào không. Thế cho nên, nếu để tôi nói, thì cô bé này không có lần sau
đâu. Cũng tội nghiệp đấy, nhưng thậm chí còn chẳng có lần sau của lần sau nữa
cơ. Mà cả lần sau của lần sau của lần sau cũng không nốt. Trước tiên, thứ văn
chương này của cô ta không phải loại cứ bỏ thời gian ra rèn giũa là tiến bộ lên
được. Cậu có đợi bao nhiêu lâu cũng vô dụng, chỉ uổng công mà thôi. Tại sao tôi
lại nói vậy, là bởi vì bản thân tác giả chẳng hề có ý định viết ra những câu
văn hay, hoặc ít ra là cố gắng học lấy cách viết văn cho hay. Cái thứ văn
chương này, một là trời sinh ra đã có tài, hoặc là sau này phải khổ công gắng sức
mà học tập. Nhưng cái cô Fukaeri ấy, lại chẳng được mặt nào. Giống như cậu thấy
đấy, chẳng có tài hoa thiên bẩm, mà hình như cũng chẳng có ý định nỗ lực gì cả.
Tôi không biết tại sao. Nhưng rõ ràng là cô ta chẳng hề hứng thú gì với văn
chương. Cô ta có mong muốn được kể chuyện, không sai. Thậm chí mong muốn khá
mãnh liệt là đằng khác. Điểm này thì tôi thừa nhận. Cái mong muốn đó, bằng hình
thức thô ráp, đã thu hút cậu, và khiến tôi đọc đến trang cuối cùng tập bản thảo.
Nhìn từ một góc độ khác, tôi không ngại gì nhận định rằng vậy là rất giỏi. Nhưng
dù thế, cô ta vẫn hoàn toàn không có tương lai trở thành tiểu thuyết gia. Một
chút tương lai bé bằng cục cứt con rệp cũng không có đâu. Có lẽ điều này làm cậu
thất vọng, nhưng nếu cho tôi phát biểu ý kiến một cách thực lòng thì là như thế
đấy.”
Tengo nghĩ ngợi giây lát, cảm thấy
Komatsu giải thích như vậy không phải là không có lý. Nói gì thì nói, Komatsu
cũng có trực giác của người làm biên tập.
“Nhưng mà, cho cô ấy một cơ hội
cũng không phải chuyện gì xấu, phải không?” Tengo hỏi.
“Ý cậu là cứ ném xuống nước, xem
xem cô ta nổi lên hay chìm xuống phải không?”
“Nói một cách đơn giản thì là vậy
đấy.”
“Bao nhiêu năm nay, tôi ‘sát
sinh’ nhiều quá rồi. Không muốn nhìn thấy người chết đuối nữa.”
“Vậy còn tôi thì sao?”
“Ít nhất cậu còn có nỗ lực,”
Komatsu chọn lựa từ ngữ. “Theo như tôi thấy, cậu chưa bao giờ tùy tiện. Hơn nữa,
đối với công việc viết văn cậu cũng hết sức khiêm nhường. Tại sao? Bởi vì cậu
thích viết văn. Điểm này thì tôi đánh giá cao cậu. Thích viết văn là tố chất
quan trọng nhất đối với những người muốn trở thành nhà văn.”
“Nhưng như thế thôi thì chưa đủ.”
“Lẽ đương nhiên, chỉ dựa vào điểm
đó thôi thì chưa đủ, còn phải có ‘một thứ gì đó đặc biệt’ nữa. Ít nhất là cần
phải có thứ gì đó mà tôi đọc không thấu được. Con người tôi ấy à, riêng về tiểu
thuyết thôi nhé, đánh giá cao nhất chính là những gì mình đọc không thấu được.
Còn những thứ đọc một lèo hiểu ngay, tôi chẳng thấy hứng thú chút nào cả. Đương
nhiên thôi phải không. Chuyện hoàn toàn rất đơn giản.”
Tengo im lặng giây lát, rồi hỏi:
“Trong tác phẩm của Fukaeri có thứ mà anh đọc không thấu ấy không?”
“Có chứ, đương nhiên là có. Cô bé
này sở hữu thứ gì đó rất quan trọng. Tôi không biết đó là gì, nhưng có thể khẳng
định là có. Điểm này thì không có gì để bàn cãi nữa. Cậu cũng hiểu mà tôi cũng hiểu.
Giống như là khói bốc lên từ đống lửa trong một buổi chiều không có gió ấy, ai
nhìn thoáng qua cũng thấy. Nhưng mà cậu Tengo à, chỉ sợ chính bản thân cô bé
không đủ sức để gánh nổi thứ mình sở hữu đó thôi.”
“Cô ấy không có cơ hội nổi lên nếu
bị ném xuống nước à?”
“Hoàn toàn chính xác,” Komatsu
nói.
“Vì vậy không thể giữ được đến
vòng cuối cùng?”
“Vấn đề chính là ở đây,” Komatsu
nói, đoạn bặm môi, hai tay đặt trên bàn đan vào nhau, “vì vậy tôi mới không thể
không cẩn trọng lựa chọn từ ngữ để nói với cậu đây.”
Tengo cầm ly cà phê lên, chăm chú
nhìn vào thứ bên trong, rồi lại đặt về vị trí cũ. Komatsu vẫn không nói tiếng
nào. Tengo hỏi: “Một ý tưởng nho nhỏ khác mà anh nói lúc nãy đang hiện
lên trong đầu rồi, phải không?”
Komatsu tựa như một vị giáo sư ngồi
trước mặt sinh viên có thành tích xuất sắc của mình, nheo nheo mắt, chầm chậm gật
đầu. “Chính thế.”
Ở con người Komatsu luôn có cái
gì đó khiến người ta không nắm bắt được. Anh ta đang nghĩ gì, cảm giác của anh
ta thế nào, chỉ dựa vào nét mặt và giọng nói thì khó mà đoán biết nổi. Bản thân
anh ta dường như cũng thích thú với việc lôi người khác vào trong đám khói mù mờ
ấy. Tư duy quả thực là rất nhanh. Anh ta thuộc loại người chẳng bao giờ quan
tâm người khác nghĩ gì, mà chỉ dựa theo logic của mình để suy xét và đưa ra
phán đoán. Không bao giờ khoe khoang quá mức cần thiết, lại đọc rất nhiều sách,
tri thức toàn diện mà tỉ mỉ chi tiết. Không chỉ có vậy, anh ta còn có con mắt
tinh tường độc đáo, có thể bằng trực giác nhìn thấu người khác, nhìn thấu tác phẩm.
Tuy rằng vẫn có nhiều thiên kiến, nhưng đối với anh ta, thiên kiến cũng là một
trong các nhân tố quan trọng của sự chân thực.
Anh ta vốn là người không nói nhiều,
rất ghét phải phí lời giải thích, nhưng, lúc cần thiết, lại có thể biểu đạt ý
kiến của mình một cách khôn khéo và logic. Chỉ cần anh ta muốn, ngôn từ cũng có
thể trở nên chua cay độc địa. Anh ta có thể nhằm trúng và đâm thấu yếu huyệt của
đối phương chỉ bằng một câu nói ngắn gọn trong chớp mắt. Sở thích cá nhân đối với
người hay với tác phẩm đều rất rõ rệt, loại người và tác phẩm anh ta không thể
chấp nhận nhiều hơn bội phần loại còn lại. Đương nhiên, người khác đối với anh
ta cũng thế, những người không có hảo cảm nhiều hơn hẳn số còn lại. Có điều,
đây vừa khéo cũng là điều Komatsu muốn. Theo như Tengo thấy, Komatsu thích một
mình cô độc, thậm chí còn hưởng thụ trạng thái bị người khác xa lánh hoặc rõ
ràng là bị người ta căm ghét này. Tinh thần sắc sảo không thể nào nảy sinh
trong hoàn cảnh dễ chịu khoan khoái được. Đây chính là tín điều của anh ta.
Komatsu hơn Tengo mười sáu tuổi,
vừa tròn bốn mươi lăm. Cho tới nay công việc duy nhất là làm biên tập ở tạp chí
Văn nghệ, cũng là một tay lão luyện có chút danh tiếng trong giới, nhưng cuộc sống
riêng của anh ta thì chẳng ai hay biết. Dù có qua lại trong công việc, anh ta
cũng chưa bao giờ nhắc đến chuyện riêng với người khác. Anh ta sinh ra lớn lên ở
đâu, giờ nhà đang ở chỗ nào, Tengo hoàn toàn không biết chút gì. Dù nói chuyện
rất lâu, nhưng những chủ đề như thế chẳng bao giờ được đề cập đến. Mọi người
thường thắc mắc tại sao một kẻ mà ngay mới đầu đã khiến người ta có ấn tượng xấu,
chẳng có mối giao du nào ra hồn, cứ mở miệng ra là khinh miệt cả văn đàn, lại
có thể kiếm được bản thảo! Trong khi anh ta thì gần như không hề tốn chút sức lực
nào, nếu muốn, bản thảo của tác giả nổi tiếng cũng dễ dàng về tay. Không ít lần
phải nhờ vào anh ta mà tạp chí mới bảo toàn được thể diện. Vì thế, mặc dù không
ưa Komatsu cho lắm, nhưng mọi người cũng phải đối xử với anh ta rất đặc biệt.
Có người đồn rằng, hồi Komatsu
đang học ở khoa Văn Đại học Tokyo thì nổ ra cuộc đấu tranh chống Điều ước Đảm bảo
An ninh Nhật-Mỹ năm 1960, mà anh ta chính là nhân vật cốt cán trong tổ chức
phong trào sinh viên khi ấy. Nghe nói, khi Kanba Michiko bị cảnh sát đánh đập đến
chết, anh ta đã ở ngay bên cạnh, cũng bị thương khá nặng. Thật hay giả thì
không biết. Có điều, trên người anh ta đúng là có thứ gì đó, khiến người ta
không khỏi có cảm giác “nói vậy cũng có lý”. Komatsu vừa cao vừa gầy, miệng rất
rộng, mũi lại rất nhỏ, tay chân dài thượt, móng tay bám đầy cặn nicotin, làm
người ta liên tưởng đến hình ảnh một phần tử trí thức cách mạng trong văn học
Nga thời thế kỷ 19. Anh ta rất hiếm khi cười, nhưng khi đã cười, cả gương mặt
liền trở nên rạng rỡ sáng ngời. Dù là vậy, nhưng nhìn vẫn như không được vui
cho lắm. Nhìn thế nào trông cũng chỉ giống một vị pháp sư lão luyện đang mỉm cười
đắc ý trong lúc chuẩn bị đưa ra một lời tiên tri chẳng lành. Tuy rằng dáng vẻ
ăn mặc gọn gàng đứng đắn, nhưng lại như thể đang tuyên bố với cả thế giới rằng
mình hoàn toàn không hề có hứng thú với trang phục, anh ta lúc nào cũng chỉ bận
một kiểu quần áo giống nhau: áo vest bằng vải tuýt, bên trong mặc sơ mi trắng vải
oxford hoặc áo polo màu xám nhạt, không đeo cà vạt, quần tây màu xám, giày da lộn.
Những thứ này giống như là đồng phục chính thức của Komatsu vậy. Cảnh tượng sáu
bảy chiếc áo vest vải tuýt kiểu ba cúc, màu sắc, chất liệu và hoa văn trên vải
chỉ hơi khác nhau một chút, được giặt sạch sẽ treo trong tủ quần áo dường như
hiện lên trước mắt. Để tiện phân biệt, có khi còn phải đánh số cũng nên.
Trên mái tóc cứng dựng ngược lên
như dây thép của Komatsu, phía trước đã bắt đầu lấm tấm bạc. Tóc rối bù, gần
như che kín cả tai. Lạ một điều là, độ dài mái tóc ấy lúc nào cũng giữ ở mức lẽ
ra nên đi cắt tóc từ một tuần trước rồi. Làm sao làm được như vậy? Tengo không
biết. Ánh mắt anh ta thi thoảng lại giống như ngôi sao lấp lánh trên bầu trời
đêm đông, sáng bừng lên. Nhưng mỗi khi có chuyện trầm ngâm suy nghĩ, anh ta lại
giống như ngọn núi đá ở phía bên kia mặt trăng vậy, im lặng đến bất tận. Nét biểu
cảm trên gương mặt gần như hoàn toàn biến mất, đến cả nhiệt độ cơ thể cơ hồ
cũng mất đi nốt.
Tengo quen Komatsu khoảng chừng
năm năm trước. Anh gửi bản thảo đến tham dự cuộc thi Tác giả mới ở tạp
chí Komatsu đang làm biên tập viên, được lọt vào vòng chung khảo. Komatsu gọi
điện thoại tới, bảo muốn gặp mặt nói chuyện. Hai người gặp nhau trong một quán
cà phê ở quận Shinjuku (chính là quán cà phê này). Komatsu nói với Tengo, lần
này tác phẩm của cậu chắc khó có khả năng giành được giải Tác giả mới (quả
nhiên là không được), nhưng mà cá nhân tôi rất thích. “Tôi không muốn lấy lòng
cậu, có điều cậu nên biết rằng, tôi rất ít khi nói vậy với ai.” (Lúc đó Tengo
không hề biết lời này hoàn toàn là sự thực.) Komatsu lại nói: Vì vậy nên, tác
phẩm sau của cậu, tôi muốn là người đầu tiên đọc. Tôi sẽ làm vậy, Tengo nói.
Hơn nữa Komatsu cũng muốn biết
Tengo là người như thế nào. Lớn lên ra sao, giờ đang làm công việc gì. Những gì
có thể nói, Tengo đều thành thực trả lời. Anh sinh ra và lớn lên ở thành phố
Ichikawa tỉnh Chiba. Sau khi Tengo ra đời không được bao lâu, mẹ anh đã bị bệnh
qua đời. Ít nhất đấy là những gì cha anh nói. Không có anh chị em. Về sau cha
anh cũng không tái hôn, một mình nuôi anh lớn. Hồi trước, cha anh làm nhân viên
thu tiền của đài truyền hình NHK, giờ mắc phải bệnh Alzheimer, sống trong một
viện điều dưỡng ở cực Nam bán đảo Boso. Tengo tốt nghiệp một khoa có cái tên hết
sức kỳ quái của đại học Tsukuba, gọi là “Chuyên ngành toán học, ban tự nhiên,
nhóm số một”, vừa làm thầy giáo dạy toán trong một trường dự bị ở Yoyogi, vừa
viết tiểu thuyết. Lúc mới tốt nghiệp, Tengo đáng lẽ đã có thể trở thành giáo
viên ở một trường cấp ba của tỉnh, nhưng anh lại chọn làm thầy giáo trường dự bị
do thời gian làm việc tương đối tự do. Hiện anh đang sống độc thân trong một
căn hộ nhỏ ở Kôenji.
Tengo cũng không rõ mình có thực
sự khát khao trở thành nhà văn chuyên nghiệp hay không. Bản thân có tài năng viết
tiểu thuyết hay không, anh cũng chẳng biết. Trong lòng chỉ rõ một sự thực: anh
không thể chịu được nếu không viết tiểu thuyết mỗi ngày. Viết văn đối với anh
giống như là hít thở vậy. Komatsu không hề phát biểu cảm tưởng, mà chỉ lặng lẽ
ngồi nghe Tengo nói.
Không hiểu vì duyên cớ gì, nhưng
xét về mặt cá nhân Komatsu hình như rất quý Tengo. Thân hình Tengo cao to (từ
trung học đến đại học đều là thành phần cốt cán của câu lạc bộ Nhu đạo), đôi mắt
như của một người nông dân dậy sớm. Tóc cắt ngắn, sắc da lúc nào cũng như cháy
nắng, hai tai tròn và nhăn như hoa súp lơ, nhìn chẳng ra nhà văn trẻ cũng không
giống thầy giáo dạy toán chút nào. Có lẽ đó chính là điểm Komatsu ưa thích.
Tengo viết xong cuốn tiểu thuyết mới, liền mang đến cho Komatsu xem. Komatsu đọc
xong, rồi nói lại cảm tưởng của mình với anh. Tengo sẽ sửa theo những lời góp ý
chân thành của Komatsu. Sau đó lại mang bản thảo đã sửa ấy tới, Komatsu sẽ đưa
ra những chỉ thị mới. Giống như huấn luyện viên nâng độ khó lên từng chút từng
chút một vậy. “Trường hợp của cậu có lẽ cần phải từ từ,” Komatsu nói, “chớ nên
nôn nóng. Hạ quyết tâm viết liên tục mỗi ngày. Cố gắng giữ lại hết những thứ đã
viết ra, đừng nên bỏ đi. Sau này có lẽ sẽ dùng được đấy.” Tôi sẽ làm vậy, Tengo
nói.
Komatsu còn mang đến một số công
việc viết lách vụn vặt đưa cho Tengo làm. Tạp chí phụ nữ của nhà xuất bản nơi
Komatsu làm việc cần một số bài viết vô danh. Từ việc viết lại bản thảo gửi đến,
hay giới thiệu sách mới phim mới, thậm chí cả những bài về chiêm tinh bói toán,
Tengo đều không chối từ, yêu cầu cái nào là viết xong cái đấy. Những bài về
chiêm tinh bói toán mà Tengo tiện tay viết ra không ngờ lại nổi tiếng vì thường
là ứng nghiệm. Khi anh viết “e rằng buổi sớm có động đất,” sáng sớm hôm ấy quả
nhiên có động đất thật. Nghề phụ này vừa mang lại thu nhập thêm, vừa là để luyện
tập viết văn. Dù dưới hình thức nào, những thứ mình viết được in ra đặt trên
giá sách cũng là điều khiến người ta thích thú.
Cách đây không lâu, Tengo còn nhận
được công việc làm người đọc bản thảo vòng sơ khảo cho giải thưởng Tác giả mới
của tạp chí Văn nghệ. Anh vẫn đang dự thi giải Tác giả mới này, đồng thời
lại là người đọc thẩm định lần đầu những tác phẩm tham gia thi khác, thật đúng
là chuyện lạ, nhưng Tengo không hề để tâm đến hoàn cảnh tế nhị của mình, vẫn đọc
thẩm định các tác phẩm ấy một cách công bằng. Đọc một đống những tiểu thuyết vô
vị nhạt nhẽo mà dở tệ chất lên như núi, anh mới thấm thía thế nào là vô vị nhạt
nhẽo, dở tệ dở hại. Mỗi lần đọc cả trăm bản thảo, chọn ra trong đó chừng mười mấy
tác phẩm còn có chút ý nghĩa gì đó, rồi đưa cho Komatsu. Trên mỗi tác phẩm đều
có kèm thêm một tờ giấy ghi lại cảm tưởng. Cuối cùng sẽ có năm tiểu thuyết được
lọt vào vòng chung khảo, để từ đó bốn vị giám khảo chọn ra giải thưởng Tác
giả mới.
Ngoài Tengo, còn có những người
làm thêm khác đảm nhiệm công việc thẩm định lần đầu này, ngoài Komatsu cũng có
mấy biên tập viên khác phụ trách tuyển lựa. Tuy rằng cố gắng để có thể công bằng,
nhưng cũng không cần phải mất công quá. Dù số lượng có nhiều đến thế nào thì
các tác phẩm có chút gì đó đáng đọc cùng lắm cũng chỉ được hai ba quyển, cho dù
ai đọc thì cũng không thể nào bỏ sót được. Tác phẩm của Tengo từng ba lần lọt
vào vòng chung khảo. Đương nhiên anh chẳng đến nỗi phải tự chọn tác phẩm của
mình, mà là hai người đọc thẩm định ban đầu, và cả người phụ trách vòng sơ khảo
trong ban biên tập là Komatsu đã cho qua. Những tác phẩm này cuối cùng đều
không được giải Tác giả mới, nhưng Tengo không hề nản lòng. Một trong những
lý do chính là câu “Đừng nôn nóng, cứ từ từ” của Komatsu đã in sâu vào tâm thức,
hơn nữa anh cũng không muốn trở thành nhà văn ngay lúc này.
Nếu phân bổ chương trình hợp lý,
một tuần sẽ có bốn ngày được ở nhà làm việc mình thích. Tengo đã dạy ở một trường
dự bị liên tiếp bảy năm, rất có tiếng trong đám học sinh. Vì cách anh giảng bài
ngắn gọn, đi vào trọng tâm, không vòng vo, và có thể trả lời tức khắc bất kể
câu hỏi gì. Đến chính bản thân Tengo cũng lấy làm kinh ngạc, không ngờ mình lại
có tài ăn nói đến thế. Cách giải thích rõ ràng, giọng nói cũng tròn vành rõ chữ,
lại còn biết pha trò khiến không khí lớp học sôi nổi lên nữa. Trước khi làm thầy
giáo, anh vẫn luôn cho rằng mình là kẻ ăn nói vụng về. Mà kỳ thực, cho tới bây
giờ, khi mặt đối mặt nói chuyện với người khác, anh vẫn rất căng thẳng, thậm
chí còn tắc tị chẳng nói được gì. Khi mấy người cùng ngồi với nhau, anh lúc nào
cũng chỉ đóng vai người lắng nghe. Nhưng cứ đứng lên bục giảng, đối mặt với một
đám đông không xác định, bộ óc anh liền đột nhiên trở nên sáng suốt, miệng nói
không ngừng. Con người thực đúng là thứ không thể đoán biết hết được, Tengo thầm
nghĩ.
Anh không phàn nàn gì về chuyện
lương lậu. Không thể nói là thu nhập cao, nhưng trường dự bị trả thù lao dựa
theo năng lực. Học sinh sẽ đánh giá giáo viên theo định kỳ, ai được điểm cao
thì mức đãi ngộ cũng tăng lên tương ứng. Vì họ sợ những giáo viên ưu tú sẽ bị
trường khác giành giật mất (sự thực thì công ty săn đầu người cũng mấy lần tìm
đến tận cửa rồi). Trường học bình thường thì không thể như vậy được, tiền lương
quyết định dựa trên thâm niên làm việc, cấp trên quản lý cả đời sống riêng,
năng lực và danh tiếng chẳng có ý nghĩa quái gì cả. Tengo rất thích công việc ở
trường dự bị này. Hầu hết học sinh đến lớp học đều có mục đích rõ ràng, đó là
thi vào đại học, nhiệt tình nghe giảng. Thầy giáo lên lớp chỉ cần dạy là đủ, những
thứ khác không cần quan tâm. Đối với Tengo, đây là một điểm đáng quý hiếm có.
Không cần phải đau đầu vì những chuyện kiểu như học sinh hạnh kiểm kém hay vi
phạm nội quy trường, chỉ cần đứng trên bục giảng dạy cách giải toán là được rồi,
mà sử dụng toán học làm công cụ suy diễn các khái niệm thuần túy lại vốn là
ngón tủ trời sinh của Tengo.
Những lúc ở nhà, anh dậy từ sáng
sớm, và thường là viết tiểu thuyết đến chiều tối. Cây bút máy Montblanc, mực
xanh và giấy viết bốn trăm ô. Chỉ cần có thế, Tengo đã cảm thấy thỏa mãn lắm rồi.
Mỗi tuần một lần, người tình đã có chồng của anh sẽ đến căn hộ này, hai người ở
bên nhau một buổi chiều. Làm tình với người đàn bà đã có chồng già hơn mười tuổi,
tuy không có tương lai gì, nhưng lại rất thoải mái, đầy đủ về nội dung. Chiều tối
anh đi tản bộ một quãng dài, trời tối thì một mình vừa nghe nhạc vừa đọc sách.
Không xem ti vi. Khi có nhân viên thu tiền của đài NHK đến, anh liền từ chối lịch
sự, nói rằng: xin lỗi, tôi không có ti vi. Thực sự không có, anh có thể vào kiểm
tra. Có điều, bọn họ chưa từng bước chân vào nhà anh. Nhân viên thu tiền của
đài NHK không được phép vào nhà người ta.
“Tôi đang tính chuyện lớn hơn một
chút,” Komatsu nói.
“Chuyện lớn hơn?”
“Phải. Giải Tác giả mới là
thứ nhỏ nhặt không cần nhắc đến, nếu đã làm, chúng ta phải nhắm tới cái gì đó lớn
hơn.”
Tengo không nói gì. Ý đồ của
Komatsu vẫn chưa rõ. Nhưng anh cảm thấy trong ý tứ có thứ gì đó khiến người ta
bất an.
“Giải Akutagawa ấy,” Komatsu
ngưng lại giây lát rồi mới nói.
“Giải Akutagawa,” Tengo như thể
đang cầm một cây gậy ngắn viết chữ Hán lên nền cát ẩm ướt, lặp lại một lượt lời
đối phương.
“Giải Akutagawa. Mặc dù cậu không
hiểu chuyện đời, nhưng cái này thì hẳn là cậu biết. Trên báo đầy ra đấy, mà thời
sự trên ti vi cũng đưa tin.”
“Ừm, anh Komatsu này, tôi không
hiểu anh đang nói gì nữa. Không phải chúng ta đang bàn về Fukaeri à?”
“Đúng thế, chúng ta đang bàn về
Fukaeri và Nhộng không khí. Chắc là không có chủ đề nào khác đâu.”
Tengo cắn môi, muốn đọc ra được ý
đồ phía sau của anh ta. “Nhưng mà, chẳng phải từ đầu chúng ta đã nói, tác phẩm
này còn chẳng có khả năng giành được giải Tác giả mới còn gì? Chẳng phải
cứ tình hình này thì vô kế khả thi hay sao?”
“Thì đó, với tình hình trước mắt
thì đúng là vô kế khả thi. Đó là sự thực rành rành.”
Tengo cần thời gian để suy nghĩ.
“Ý anh là, phải sửa lại bản thảo?”
“Chẳng còn cách nào khác đâu. Đối
với những tác phẩm dự thi có hy vọng, biên tập đưa ra kiến nghị để tác giả viết
lại cũng là chuyện rất thường thấy, chẳng có gì lạ cả. Có điều, lần này không
phải do tự tác giả sửa lại, mà để một người khác.”
“Ai vậy?” Tengo hỏi. Kỳ thực từ
trước lúc mở miệng ra, anh đã biết trước đáp án rồi, chẳng qua muốn hỏi lại cho
chắc chắn mà thôi.
“Cậu sẽ viết lại,” Komatsu nói.
Tengo lục tìm từ ngữ biểu đạt,
nhưng không tìm được từ nào thích hợp. Anh đành thở dài một tiếng, nói: “Nhưng
mà, anh Komatsu này, tác phẩm này nếu chỉ sửa chữa chút ít thì chẳng có ích gì
cả đâu. Chỉ sợ phải viết lại toàn bộ từ đầu chí cuối mới ra hồn được.”
“Đương nhiên là phải làm lại từ đầu
đến cuối. Cốt truyện sẽ giữ nguyên. Không khí trong cách hành văn cũng cố gắng
giữ lại. Nhưng câu chữ thì gần như phải viết lại hết. Đây gọi là ‘thay da đổi
thịt’ đấy. Viết lại cụ thể thế nào sẽ do cậu phụ trách, tôi phụ trách về mặt tổng
thể.”
“Chuyện này liệu có thành được
không?” Tengo như đang tự nói với mình.
“Cậu nghe đây,” Komatsu cầm chiếc
thìa nhỏ lên, chỉ về phía Tengo, như thể người nhạc trưởng đang giơ gậy chỉ huy
ra hiệu cho nghệ sĩ độc tấu, nói: “Cô bé tên Fukaeri có thứ gì đó đặc biệt, chỉ
cần đọc Nhộng không khí là thấy rõ ngay. Khả năng tưởng tượng không hề tầm
thường. Nhưng thật tiếc là, văn chương lại quá tạp nham, không cứu vãn nổi. Còn
cậu thì viết được, tố chất tốt, có năng khiếu. Tuy dáng người cao lớn thế này,
nhưng văn chương lại vừa có lý tính vừa tinh tế, mà có cả khí lực nữa. Nhưng trái
ngược với Fukaeri, cậu vẫn chưa rõ mình nên viết cái gì. Vì vậy, lần nào cũng
chưa thấy được mạch chính của câu chuyện. Thứ cậu nên viết ra ấy, chắc chắn là
nó đang ẩn trốn trong tim cậu. Nhưng nó giống như một con vật nhỏ nhút nhát, trốn
tít vào trong hang sâu, sống chết cũng không chịu ra. Biết rõ là nó trốn trong
hang sâu, nhưng nó không chui ra, thì cậu không bắt được. Tôi nói đừng nôn
nóng, cứ phải từ từ, chính là ý này đây.”
Tengo vụng về thay đổi tư thế ngồi
trên chiếc ghế nhựa, không nói lời nào.
“Sự việc rất đơn giản,” Komatsu
nhẹ nhàng vung vẩy thìa, nói tiếp, “chỉ cần kết hợp hai người này làm một, tạo
ra một tác giả mới là xong. Từ cốt truyện thô mộc gồ ghề của Fukaeri, cậu đắp
cho nó những lời văn hoàn mỹ. Đây là một sự kết hợp hết sức lý tưởng. Cậu có đủ
sức làm chuyện này. Chẳng phải cũng chính vì vậy mà cá nhân tôi từ trước đến
nay luôn ủng hộ cậu sao? Có đúng không? Những chuyện còn lại cứ để tôi lo. Chỉ
cần chúng ta đồng tâm hiệp lực, giải Tác giả mới là chuyện không cần phải
bàn. Kể cả là giải Akutagawa thì cũng dư sức. Tôi làm nghề này bao nhiêu năm,
đâu chỉ biết ăn không ngồi rồi. Chuyện này phải xử lý thế nào, tôi nắm đến chân
tơ kẽ tóc.”
Tengo hơi mấp máy mở miệng, ngây
người nhìn Komatsu chằm chằm. Komatsu đặt chiếc thìa nhỏ trở lại trên đĩa tách,
làm phát ra âm thanh lớn đến độ không tự nhiên.
“Nếu được giải Akutagawa, sau này
sẽ thế nào?” Tengo định thần lại, hỏi.
“Được giải Akutagawa, tiếng tăm sẽ
nổi như cồn. Người đời quá nửa là không hiểu được giá trị thực sự của tiểu thuyết.
Nhưng lại không chịu lạc hậu với trào lưu. Nên thấy có cuốn sách được giải trở
thành tiêu điểm bàn tán là sẽ mua về đọc. Nếu tác giả là nữ sinh trung học, mọi
người sẽ càng phát cuồng lên. Sách bán chạy, sẽ kiếm được một khoản bộn. Tiền
kiếm được ba chúng ta chia nhau theo tỷ lệ thích hợp. Về mặt này tôi sẽ sắp xếp
sao cho ổn thỏa.”
“Mấy chuyện chia chác đó, hiện giờ
tôi không quan tâm,” Tengo nói với giọng khô khan, “làm chuyện này, không mâu
thuẫn gì với đạo đức nghề nghiệp của một biên tập viên à? Chẳng may vụ này bị lộ
ra thì sẽ lớn chuyện đấy. Anh cũng đừng mong tiếp tục làm việc ở nhà xuất bản,
phải không?”
“Không dễ bị lộ thế đâu. Chỉ cần
tôi muốn, mọi chuyện sẽ êm xuôi. Mà dù có bị lộ thì tôi ngại gì mà không bỏ
quách cái công ty ấy! Đằng nào thì cấp trên cũng không khoái mình, toàn cho ăn
cơm hẩm. Gì chứ công việc thì sẽ tìm được ngay thôi. Tôi ấy à, tôi làm vậy hoàn
toàn không phải vì tiền. Tôi chỉ muốn hạ nhục cái giới văn chương này một trận.
Cả một lũ chen chúc trong hang động tối tăm, vừa tâng bốc, bợ đít, rồi thì giẫm
đạp lẫn nhau, lại vừa cao giọng khoác lác sứ mệnh văn học thế này thế nọ, cái
đám vô dụng này, tôi muốn chọc cho chúng một trận. Chui qua lỗ hổng của cơ chế,
chơi chúng một vố thật đau. Cậu không cảm thấy làm vậy rất vui sao?”
Tengo không thấy vui vẻ cho lắm.
Anh vẫn chưa hiểu biết gì về cái gọi là giới văn chương ấy, biết được một người
tài cán như Komatsu lại định đi qua một cây cầu nguy hiểm chỉ vì một động cơ trẻ
con như thế, nên trong phút chốc chẳng nói được lời nào.
“Những điều anh nói, tôi nghe cứ
như là một trò lừa đảo.”
“Hình thức hợp tác này không hề
hiếm gặp,” Komatsu chau mày nói, “các loại truyện tranh đăng trên tạp chí có đến
quá nửa là như vậy. Mọi người cùng góp sức động não nghĩ ra một câu chuyện, họa
sĩ vẽ ra các đường nét cơ bản, rồi các trợ lý sẽ vẽ nốt chi tiết, tô màu. Việc
này với việc chế tạo đồng hồ trong nhà máy cũng cùng một cách thức thôi. Trong
giới viết tiểu thuyết cũng có những trường hợp tương tự. Ví dụ, tiểu thuyết
lãng mạn là như vậy đấy, hầu hết đều dựa trên các công thức định sẵn của nhà xuất
bản, rồi thuê tác giả viết lại cho có màu mè. Nói cách khác, đây chính là hệ thống
phân công lao động. Không làm thế thì đừng hòng mong sản xuất hàng loạt được.
Chỉ có điều, trong giới văn học thuần túy bảo thủ ấy, phương thức này vẫn không
thể thực hiện công khai, vì thế, chiến lược sẽ là, chúng ta cần đưa cô bé
Fukaeri ấy lên sân khấu. Nếu chẳng may bị lộ, có lẽ sẽ trở thành xì căng đan,
nhưng đâu có vi phạm pháp luật. Cách làm này đã là xu thế của thời đại rồi. Hơn
nữa, có phải chúng ta đang nói tới Balzac hay Murasaki Shikibu(1)_ đâu. Chẳng qua chỉ sửa chữa một chút cho tác phẩm thô vụng,
hớ hênh của một nữ sinh trung học thành một tác phẩm nên hồn mà thôi! Thế thì
có gì mà không được chứ? Tác phẩm sau khi gia công có chất lượng tốt, được nhiều
độc giả ưa thích, như thế chẳng phải là đã đủ rồi sao?”
Tengo nghĩ ngợi một lát về những
điều Komatsu vừa nói, rồi cẩn trọng chọn lựa từ ngữ nói: “Có hai vấn đề. Thực
ra chắc là có rất nhiều vấn đề, nhưng tôi tạm thời chỉ nêu lên hai cái thôi.
Trước tiên, cô bé Fukaeri kia có đồng ý để người khác viết lại tác phẩm của
mình không? Nếu cô ấy không nhận lời, dĩ nhiên sẽ không thể tiếp tục được nữa rồi.
Thứ nữa, dù cô ấy có đồng ý, tôi có thể viết lại được câu chuyện này cho hay ho
hay không, cũng là một vấn đề. Việc viết chung này hết sức tế nhị, chỉ sợ sự việc
không đơn giản như anh nghĩ thôi đâu.”
“Tengo à, chắc chắn là cậu làm được,”
Komatsu dường như đã đoán trước được vấn đề này, Tengo vừa dứt tiếng thì anh ta
đã tiếp lời ngay tức khắc, “không nghi ngờ gì cả, chắc chắn cậu sẽ làm được.
Khi vừa bắt đầu đọc Nhộng không khí, ý tưởng này đã đột nhiên nảy lên
trong đầu tôi rồi, đây chính là câu chuyện để Tengo viết lại! Nói cho rõ
hơn một chút, đây là câu chuyện thích hợp cho cậu viết lại. Là một câu chuyện
đang đợi cậu viết lại. Cậu không nghĩ thế à?”
Tengo chỉ lắc đầu, không nói được
gì.
“Đừng kết luận nhanh thế,”
Komatsu bình tĩnh nói, “chuyện này hết sức quan trọng. Cứ suy nghĩ hai ba ngày.
Đọc lại Nhộng không khí một lượt. Rồi nghĩ cho kỹ càng về đề nghị của
tôi. À phải rồi, còn cái này nữa tôi đưa luôn cho cậu.”
Komatsu lấy trong túi áo khoác ra
một phong bì màu nâu, đưa cho Tengo. Bên trong phong bì là hai tấm ảnh màu. Ảnh
của một cô bé, một tấm chụp chân dung từ ngực trở lên, tấm kia là kiểu ảnh sinh
hoạt chụp toàn thân. Hình như được chụp cùng một thời gian. Cô đứng trước một cầu
thang nào đó. Bậc thang đá rộng rãi. Gương mặt đẹp theo kiểu cổ điển, mái tóc
dài buông thẳng. Áo trắng. Dáng người nhỏ nhắn, hơi gầy. Đôi môi đang cố nhoẻn
ra một nụ cười, trong khi ánh mắt thì đang phản kháng. Đôi mắt quá đỗi nghiêm
túc. Đôi mắt như thể đang theo đuổi thứ gì đó. Tengo lần lượt xem cả hai tấm ảnh
một lúc. Không hiểu tại sao, nhìn hai tấm ảnh này, anh chợt nhớ lại mình vào tầm
tuổi ấy, lồng ngực hơi nhâm nhẩm đau. Đó là cảm giác đau đớn hết sức đặc biệt,
đã lâu lắm rồi anh chưa từng có lại. Trong dáng người cô gái dường như có thứ
gì đó gợi lên nỗi đau ấy trong anh.
Komatsu nói: “Đây chính là
Fukaeri đó. Khá đẹp phải không. Hơn nữa còn thuộc loại giản dị, sạch sẽ. Mười bảy
tuổi. Chẳng có gì để bới móc bắt bẻ cả. Tên thật là Fukada Eriko. Nhưng chúng
ta sẽ không công bố tên thật, mà chỉ sử dụng tên ‘Fukaeri’ thôi. Cậu không cảm
thấy, nếu cô bé giành được giải Akutagawa thì chắc chắn sẽ trở thành chủ đề
nóng hay sao? Bọn truyền thông chắc hẳn sẽ như lũ dơi buổi hoàng hôn, kết thành
từng đàn bay lượn trên đầu ấy chứ. Sách chắc chắn sẽ in không đủ bán cho mà
xem.”
Komatsu kiếm đâu ra mấy tấm ảnh
này? Tengo lấy làm lạ. Gửi bản thảo đến đâu cần kèm theo ảnh. Nhưng Tengo không
muốn hỏi. Một trong những lý do là vì không thể đoán được câu trả lời như thế
nào... phần nữa là vì anh cũng không muốn biết.
“Cậu cầm luôn đi. Biết đâu lại có
tác dụng gì,” Komatsu nói. Tengo liền nhét hai tấm ảnh trở lại phong bì, đặt
lên phía trên bản phô tô của Nhộng không khí.
“Anh Komatsu, tôi gần như chẳng
biết gì về chuyện trong giới cả, nhưng theo lẽ thường mà suy đoán thì đây là một
kế hoạch hết sức nguy hiểm. Một khi anh đã nói dối cả xã hội thì sẽ buộc phải
tiếp tục nói dối mãi, phải che đậy lấp liếm mãi. Cả về phương diện tâm lý lẫn kỹ
thuật, đây là chuyện không hề đơn giản đâu. Chỉ cần một người bất cẩn làm sai
chuyện gì đó, rất có thể sẽ mang họa đến cho tất cả những người còn lại. Anh
không thấy vậy sao?”
Komatsu rút một điếu mới, châm
thuốc. “Cậu nói đúng. Vừa hợp lẽ lại vừa chính xác. Đây đúng là một kế hoạch hết
sức mạo hiểm. Trong lúc này, những nhân tố chưa xác định còn quá nhiều. Không
thể dự đoán được rốt cuộc sẽ có chuyện gì xảy ra. Có khi sẽ thất bại, mang đến
cảm giác không vui cho mỗi người. Tôi hoàn toàn hiểu được điều này. Thế nhưng,
Tengo à, sau khi nghĩ kỹ tất cả mọi điều, bản năng nói với tôi rằng: hãy tiến
lên! Bởi vì đây là cơ hội ngàn năm có một đấy! Cho đến lúc này, tôi vẫn chưa từng
một lần gặp được cơ hội như thế. Chỉ sợ sau này cũng chẳng có nữa đâu. Đem so với
việc đánh bạc có lẽ không được thích hợp cho lắm, nhưng mà, trên tay giờ đã có
cả bộ bài đẹp rồi. Xèng cũng chất đầy một đống. Mọi điều kiện đều đã sẵn sàng.
Nếu bỏ qua cơ hội lần này, chắc chắn sẽ hối hận về sau.”
Tengo im lặng không nói gì, ngước
nhìn nụ cười chẳng lành nở ra trên gương mặt người đối diện.
“Điều quan trọng nhất nằm ở chỗ
chúng ta sẽ nhào nặn lại để Nhộng không khí trở thành một tác phẩm xuất
sắc. Đây là một câu chuyện lẽ ra phải được viết tốt hơn. Bên trong nó có
thứ gì đó cực kỳ quan trọng. Một thứ gì cần phải được một ai đó khéo léo
lôi ra. Chắc chắn là cậu cũng nghĩ như vậy. Hay là tôi sai? Vì mục đích này,
chúng ta hãy cùng hiệp lực. Tạo ra một dự án kết hợp khả năng của tất cả mọi
người. Động cơ dù có trương ra bất cứ đâu cũng không có gì phải xấu hổ.”
“Có điều, anh Komatsu này, cho dù
có đưa ra lý do cao thượng thế nào, danh phận đường hoàng thế nào, nói gì thì
nói, nó vẫn giống như hành vi lừa gạt vậy. Có thể chẳng có gì xấu hổ khi để lộ
động cơ, nhưng trên thực tế thì lại chẳng thể trương ra đâu được. Chỉ có thể
hành động một cách lén lút mà thôi. Nếu dùng từ ‘lừa gạt’ không được thích đáng
cho lắm thì có thể gọi là hành vi bội tín. Dẫu không vi phạm pháp luật, nhưng ở
đây còn vấn đề đạo đức nữa. Anh nghĩ thử xem, mình là biên tập lại đi tự tạo ra
tác phẩm đoạt giải Tác giả mới của tạp chí Văn nghệ thuộc nhà xuất bản của
mình, thế có khác nào giao dịch cổ phiếu nội bộ không?”
“Văn chương đâu thể so sánh với cổ
phiếu được. Hai thứ ấy hoàn toàn khác nhau mà.”
“Anh nói thử xem khác nhau ở điểm
nào chứ?”
“Chẳng hạn nhé, phải rồi, cậu đã
bỏ qua một sự thực hết sức quan trọng,” Komatsu nói. Miệng anh ta ngoác ra cười
thích thú. Tengo chưa bao giờ thấy miệng Komatsu ngoác to như vậy bao giờ cả.
“Phải nói là, cậu cố tình không nhận thấy mới đúng. Sự thực này, chính là cậu
cũng đã nôn nao muốn thử rồi. Ý cậu đã muốn viết lại Nhộng không khí
rồi. Tôi thoáng nhìn qua là biết ngay. Mạo hiểm hay đạo đức chẳng là cái cóc
gì! Tengo à, chắc chắn lúc này trong lòng cậu đang rất hy vọng có thể tự tay sửa
lại tiểu thuyết Nhộng không khí đó, chắc chắn rất muốn thay Fukaeri, đưa
cái gì đó ấy ra. Đấy, đây chính là điểm khác biệt giữa văn chương và cổ phiếu. Ở
đây không có xấu hay tốt, chỉ có một động cơ còn hơn cả tiền bạc đang thúc đẩy
sự vật tiến lên phía trước. Cậu về nhà tự hỏi lại mình đi. Đứng trước gương mà
quan sát mặt mình thật kỹ vào. Trên mặt cậu đã viết rất rõ điều ấy rồi đấy.”
Tengo cảm thấy không khí xung quanh
mình dường như đột nhiên trở nên loãng hẳn. Anh đảo mắt nhìn nhanh xung quanh một
lượt. Đoạn hình ảnh ấy lại sắp xuất hiện rồi sao? Nhưng không có vẻ gì là như vậy
cả. Bầu không khí loãng này đến từ một vùng khác. Anh lấy trong túi ra chiếc
khăn tay, lau mồ hôi trên trán. Những điều Komatsu nói thường đều rất chính
xác. Không hiểu tại sao nữa?