Nobel Văn chương 2008
Paris 1931. Một cuộc đời được dựng nên qua các mảnh ký
ức. Cô bé Ethel thăm triển lãm thuộc địa cùng ông chú họ. Cuộc sống đầy đủ
trong gia đình dân gốc đảo Maurice. Chủ nghĩa Đức quốc xã. Gia đình sa sút. Mối
tình đầu. Chiến tranh. Cuộc trốn chạy về miền Nam nơi cơn đói khát hiện hữu. Tất
cả đẩy một thiếu nữ, dù không muốn, trở thành anh hùng khi vừa tròn đôi mươi.
Lối viết thi vị nhưng tái hiện đầy sức nặng hình ảnh
nước Pháp trước ngưỡng cửa một đoạn lịch sử cùng cực, đã khiến Điệp khúc cơn đói trở thành một trong
những tác phẩm đặc biệt nhất, gây xúc động nhất của nhà văn giành giải Nobel
2008.
***
Đôi nét về tác
giả Le Clézio
Jean-Marie Gustave Le Clézio sinh ngày 13 tháng Tư năm
1940 tại Nice. Được mệnh danh là “nhà văn du mục”, J. M. G. Le Clézio chưa bao
giờ ngừng viết từ tuổi lên bảy lên tám: thơ, truyện kể, truyện ngắn, nhưng
không tác phẩm nào trong số đó được công bố trước Le procès-verbal (tạm dịch: Biên
bản), cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông xuất bản vào tháng Chín năm 1963 và
đoạt giải Renaudot. Đến nay, ông đã cho ra mắt khoảng ba mươi tác phẩm. Năm
2008 ngay sau khi xuất bản Điệp khúc cơn
đói, ông vinh dự được nhận giải Nobel Văn chương.
***
Lời khen tặng
dành cho Điệp khúc cơn đói
“Một cuốn sách lạ lùng, riêng tư, đầy bất ngờ. Le
Clézio khiến độc giả ngạc nhiên rồi mê hoặc họ.”
- Madame Figaro
“Làm thế nào để diễn tả được sức lôi cuốn khôn cưỡng
của cuốn tiểu thuyết hơn hai trăm trang này?”
- france2.fr
“Cám ơn Le Clézio vì một tác phẩm hoàn hảo đến vậy.”
- CritiquesLibres.com
***
Trích Điệp khúc cơn đói
I
Ngôi
nhà màu tía
Ethel.
Cô bé đang đứng trước lối vào công viên. Bây giờ là buổi chiều tối. Ánh sáng
dìu dịu, màu ngọc trai. Có lẽ sắp có giông trên sông Seine. Cô bé nắm thật chặt
tay ông Soliman. Cô bé vừa tròn mười tuổi, vẫn còn thấp bé, đầu Ethel mới chỉ
cao ngang hông người đàn ông, là ông trẻ của cô bé. Phía trước họ, nom như có
một thành phố nằm giữa những cây đại thụ của khu rừng Vincennes, người ta trông
thấy nào tháp, nào tòa, nào vòm. Trên những đại lộ vây quanh, đám đông chen
chúc nhau. Đột nhiên, cơn mưa rào ập xuống, cơn mưa ấm nóng làm bốc lên một làn
hơi nước bao trùm thành phố. Chỉ trong chốc lát, hàng trăm cây dù màu đen bật
mở. Người đàn ông quên không đem theo cây dù của mình. Trong khi những giọt mưa
lớn bắt đầu rơi xuống, ông lưỡng lự. Nhưng Ethel vẫn kéo tay ông, và hai ông
cháu cùng nhau băng qua đại lộ, chạy về phía mái vẩy của lối vào, đứng trước
những cỗ xe ngựa chở khách thuê và dãy ô tô. Cô bé kéo tay trái ông, ông cụ
dùng tay phải giữ cho chiếc mũ màu đen ngay ngắn trên cái đầu nhọn của mình.
Khi ông chạy, chòm râu bên má màu xám bay phất phơ theo từng nhịp bước khiến
Ethel bật cười. Thấy cô bé cười, ông cũng bật cười theo, đến mức phải dừng lại
trú dưới một cây dẻ.
Đó là một nơi rất tuyệt. Ethel chưa từng nhìn thấy, cũng
chưa từng mơ đến thứ gì tương tự. Đi hết lối vào, bước qua cửa ô Picpus, họ men
dọc theo tòa nhà viện bảo tàng, đằng trước có đám đông đang chen lấn. Ông
Soliman không quan tâm. “Viện bảo tàng thì xem lúc nào chả được”, ông bảo vậy.
Ông đã có sẵn trong đầu một dự định. Chính vì thế ông muốn đến đây cùng Ethel.
Cô bé đã cố gắng tìm hiểu, từ nhiều ngày qua em đã gặng hỏi ông. Cháu láu lỉnh
lắm, đó là câu ông đã nói với cô bé. Em biết cách dò hỏi khéo léo. “Nếu đó là một
điều bất ngờ, ta biết nói gì với cháu bây giờ? Nói ra thì còn gì là bất ngờ
nữa?” Ethel lại tiếp tục nài nỉ. “Ít ra ông cũng cho cháu đoán thử xem.” Sau
bữa tối, ông ngồi trên ghế bành hút xì gà. Ethel thổi bay đám khói xì gà. “Cái
đó có ăn được không ạ? Có uống được không? Một chiếc váy dài tuyệt đẹp chăng?”
Nhưng ông Soliman vẫn cương quyết không tiết lộ. Ông hút xì gà và uống rượu cô
nhắc như mọi tối. “Ngày mai cháu sẽ biết.” Ethel, sau cuộc nói chuyện đó, không
thể chợp mắt. Cả đêm em trằn trọc trở mình trên chiếc giường nhỏ bằng kim loại
kêu kèn kẹt. Mãi đến buổi bình minh em mới thiếp đi và khó khăn lắm mới thức
dậy được vào lúc mười giờ, khi mẹ em tới đón qua nhà các cô dùng bữa trưa. Ông
Soliman vẫn chưa thấy tới. Thế nhưng đại lộ Montparnasse không xa phố Cotentin
là mấy. Cách có mười lăm phút đi bộ, mà ông Soliman lại đi bộ rất cừ. Ông bước
rất thẳng, chiếc mũ đen bắt chặt vào đầu, cùng cây can mũi bịt bạc không hề
chạm đất. Bất chấp tiếng ồn ào ngoài phố, Ethel nói em nghe thấy tiếng chân ông
từ đằng xa, tiếng động nhịp nhàng của đôi gót ủng bằng sắt gõ trên vỉa hè. Em
bảo tiếng động ấy giống như tiếng vó ngựa. Em thích so sánh ông Soliman với
ngựa, và điều đó cũng không khiến ông phật ý, thi thoảng, bất chấp cái tuổi tám
mươi của mình, ông nhấc bổng em lên vai để đi dạo trong công viên, và bởi ông
rất cao lớn, em có thể chạm tới những cành cây sà xuống thấp.
Cơn mưa đã tạnh, họ nắm tay nhau bước tới bờ hồ. Dưới
vòm trời xám xịt, hồ có vẻ rất rộng, cong cong, trông giống một đầm lầy. Ông
Soliman thường nhắc đến những cái hồ và miền đất trũng khi xưa ông đã tới, tận
bên châu Phi, thời ông còn là bác sĩ quân y đóng quân tại phần lãnh thổ Công gô
thuộc Pháp. Ethel thích nghe ông kể chuyện. Ông Soliman cũng chỉ kể chuyện cho
mình em nghe. Tất cả những gì em biết về thế giới này đều thông qua những
chuyện ông đã kể cho em. Trên mặt hồ, Ethel nhận thấy vài con vịt, một con
thiên nga lông ngả vàng có vẻ buồn chán. Họ đi qua trước một hòn đảo bên trên
có xây một ngôi đền Hy Lạp. Đám đông chen lấn để vượt cây cầu gỗ và ông Soliman
hỏi, nhưng rõ ràng chỉ để yên tâm: “Cháu có muốn...?” Quá đông đúc, và Ethel
kéo tay ông trẻ. “Không ạ, không ạ, chúng ta hãy lập tức đến Ấn Độ thôi!” Họ đi
men theo bờ hồ theo hướng ngược lại với dòng người. Đám đông rẽ ra trước người
đàn ông cao lớn vận áo khoác dài, đầu đội mũ kiểu cổ, và cô bé tóc vàng diện
cái váy dài xếp nếp, mang giày cao cổ. Ethel hãnh diện khi đi cùng ông Soliman.
Em có cảm tưởng đang đi cùng một người khổng lồ, một người có thể khai thông
lối đi trong bất cứ sự hỗn loạn nào của thế giới.
Lúc này, đám đông di chuyển theo chiều ngược lại, về
phía cuối hồ. Vươn cao trên những rặng cây, Ethel nhìn thấy những tòa tháp lạ
mắt, màu xi măng. Em chật vật lắm mới đánh vần được cái tên ghi trên một tấm
biển:
“Ang... kor...
- Vat! ông Soliman nói nốt. Angkor Vat. Đây là tên một
ngôi đền của Campuchia. Trông có vẻ giống đấy nhưng trước hết, ta muốn chỉ cho
cháu thấy cái này.” Ông đã có sẵn trong đầu một dự định. Vả lại, ông Soliman
không muốn đi cùng hướng với đám đông. Ông dè chừng những chuyển động mang tính
tập thể. Ethel thường được nghe người khác nói về ông trẻ em: “Một người thật
kỳ quặc.” Mẹ em bênh vực ông, chắc chắn bởi ông là chú ruột của bà: “Ông cực kỳ
dễ mến.”
Ông đã nuôi dạy bà rất nghiêm khắc. Khi cha bà qua đời,
chính ông đã nhận bà về nuôi. Nhưng bà không gặp ông thường xuyên, ông luôn ở
xa, tận đầu kia thế giới. Bà quý mến ông. Có lẽ bà còn cảm động hơn bởi người
đàn ông già cả này vô cùng yêu chiều Ethel. Như thể bà được chứng kiến trái tim
ông rốt cuộc đã rộng mở, vào đoạn cuối của một cuộc đời đơn độc và chai sạn.
Cạnh đó, một con đường dẫn ra xa khỏi bờ sông. Người đi
dạo mỗi lúc một vãn đi. Một tấm biển đề: CÁC THUỘC ĐỊA CŨ. Bên dưới là những
cái tên, Ethel chậm rãi đọc:
RÉUNION
GUADELOUPE
MARTINIQUE
SOMALIE
NOUVELLE-CALÉDONIE
GUYANE
INDE FRANAISE
Đây chính là nơi ông Soliman muốn đến.
Trong một vạt rừng thưa, hơi lùi lại phía sau hồ. Vài
căn lều lợp mái rạ, những căn còn lại được xây kiên cố, với những cây cột mô
phỏng theo thân cây cọ. Nom như một ngôi làng. Ở chính giữa, một dạng quảng
trường được rải sỏi đã bày sẵn nhiều ghế tựa. Một vài khách tham quan ngồi rải
rác, những phụ nữ mặc váy dài vẫn mở dù, nhưng lúc này mặt trời đã lên cao và
những cây dù dùng để che nắng. Các quý ông trải khăn tay lên mặt ghế để thấm
bớt nước mưa.
“Đẹp quá!” Ethel không khỏi thốt lên khi đứng trước căn
chòi Martinique. Trên trán tường của căn nhà (dựng theo kiểu lều, ở đây cũng
vậy) tất cả các loại hoa và quả ngoại lai được bày thành một ụ tròn, dứa, đu
đủ, chuối, khóm râm bụt và chim thiên đường.
“Đúng thế, rất đẹp... cháu có muốn xem không?”
Nhưng cũng như lúc nãy, ông hỏi với giọng ngập ngừng,
thêm vào đó ông còn nắm tay Ethel và đứng yên tại chỗ. Cô bé hiểu, em đáp: “Nếu
ông muốn thì để sau ạ?
- Bất kể thế nào, bên trong cũng chẳng có gì đâu.” Qua
khung cửa, Ethel thoáng thấy một thiếu nữ thổ dân đảo Ăng ti đầu đội khăn vành
đỏ đang nhìn ra bên ngoài, vẻ mặt nghiêm nghị. Ethel nghĩ thiếu nữ ấy rất muốn
nhìn thấy em, chạm vào cái đầm em đang mặc, nói chuyện với em, vẻ mặt cô ấy mới
rầu rĩ làm sao. Nhưng em không nói gì với ông trẻ. Ông kéo tay em dẫn đến đầu
kia quảng trường, về phía căn chòi Inde franaise.
Căn chòi không lớn lắm. Nó không gây chú ý cho khách
tham quan. Đám người đi qua không dừng bước, diễu qua một lượt, com lê đen, mũ
đen cùng tiếng loạt xoạt khe khẽ phát ra từ những chiếc đầm dài của đám phụ nữ,
những chiếc mũ cài lông, cài quả, cài mạng của họ. Vài đứa trẻ lẽo đẽo theo
sau, lén liếc sang phía họ, Ethel và ông Soliman đang đi ngược chiều ngang qua
chỗ chúng. Họ đi về phía những công trình nghệ thuật, những mỏm đá, những đền
miếu, những tòa tháp cao đang vượt lên tán cây đại thụ nom giống hệt những móc
gai hàng rào.
Em thậm chí không hỏi xem dưới đó là thứ gì. Ông hẳn sẽ
lầm bầm giải thích: “Bản sao của đền Angkor Vat, nếu cháu muốn ngày nào đó ta
sẽ dẫn cháu đi thăm bản chính.” Ông Soliman không ưa những bản sao, ông chỉ
quan tâm đến tính chân thực, tất cả chỉ có vậy.
Ông dừng lại trước ngôi nhà. Gương mặt đỏ bừng của ông
hiện rõ niềm thỏa mãn trọn vẹn. Không nói một lời, ông nắm chặt tay Ethel rồi
họ cùng leo những bậc thang gỗ dẫn lên thềm. Đó là một ngôi nhà rất đơn giản,
bằng gỗ sáng màu, bao quanh là hàng hiên đóng cột. Những ô cửa sổ được bố trí
cao, có treo những bức sáo bằng gỗ tối màu. Phần mái gần như phẳng, lợp ngói
bóng láng, trên chốc mái là một dạng tháp pháo có lỗ châu mai. Khi họ bước vào,
bên trong không một bóng người. Chính giữa nhà là một khoảng sân trong, được
chiếu sáng nhờ ngọn tháp trên nóc, tắm trong một thứ ánh sáng màu tía kỳ lạ.
Bên cạnh khoảng sân trong là một bồn nước hình tròn phản chiếu bầu trời. Mặt
nước lặng như tờ, đến độ trong chốc lát Ethel cứ ngỡ đó là một tấm gương. Em
dừng bước, tim đập rộn, và ông Soliman cũng khựng lại, đầu hơi ngửa ra sau để
quan sát phần đỉnh vòm phía trên. Trong những hốc bằng gỗ được bố trí thành
hình bát giác đều, những thanh đèn điện tỏa thứ màu nhẹ, bảng lảng như một làn
khói, màu của hoa cẩm tú cầu, màu của buổi hoàng hôn trên biển.
Thứ gì đó run rẩy chập chờn. Thứ gì đó chưa hoàn thiện,
có chút thần diệu. Dĩ nhiên là không có ai ở đó. Như thể nơi đây chính là ngôi
đền thực, bị bỏ quên giữa rừng già, và Ethel ngỡ đã nghe thấy tiếng cây lá xào
xạc, những tiếng kêu the thé và khàn khàn, những bước chân êm ru của loài mãnh
thú chốn thâm sơn cùng cốc, em rùng mình và nép vào người ông trẻ.
Ông Soliman không nhúc nhích. Ông đứng sững chính giữa
mảnh sân, dưới vòm ánh sáng, ánh đèn điện lờ mờ nhuộm sắc mặt ông thành tía và
nhuộm những chòm râu má của ông thành hai ngọn lửa màu xanh lơ. Giờ thì Ethel
đã hiểu: chính cảm xúc của ông trẻ khiến em rùng mình. Trong căn nhà này phải
có một bí mật, một bí mật tuyệt diệu vừa nguy hiểm vừa mỏng manh, tới mức một
cử động nhỏ nhất cũng khiến mọi chuyện ngừng lại, mới có thể khiến một người
đàn ông cao lớn đến thế, mạnh mẽ đến thế phải đứng im bất động.
Thế là ông nói như thể tất cả những thứ này đều thuộc về
ông.
“Đằng kia, ta sẽ kê tủ bàn giấy, kia nữa là hai giá
sách... Góc này cây đàn êpinét, trong cùng kia là những bức tượng châu Phi bằng
gỗ đen, với ánh sáng thế này thì rất hợp, rốt cuộc ta cũng có thể trải tấm thảm
Béc be khổ lớn ra rồi...”
Ethel không hiểu lắm. Em theo gót người đàn ông vĩ đại
trong khi ông đi từ phòng này sang phòng kia, với tâm trạng nôn nóng em chưa
từng thấy ở ông. Cuối cùng ông quay lại khoảng sân trong, rồi ngồi xuống bậc
thềm, để quan sát bồn nước in bóng bầu trời, và như thể họ đang cùng ngắm nhìn
một buổi hoàng hôn trên đê biển, xa ngái, đâu đó nơi nào khác, tận đầu kia thế
giới, bên Ấn Độ, trên đảo Maurice, xứ sở từ thuở ấu thơ của ông.
Như một giấc mơ. Khi em nghĩ đến về nó, chính màu tía,
và mặt bồn nước hình chiếc đĩa sáng rực phản chiếu bầu trời, tràn ngập trong
em. Một bầu không khí hư ảo đến từ thời xa lắc, rất cổ xưa. Giờ thì tất cả đã
biến mất. Thứ còn lại, không phải là những kỷ niệm, như thể em chưa từng là bé
con. Triển lãm thuộc địa. Em đã giữ những món nhỏ nhặt nhất của ngày hôm đó,
khi dạo bước trên lối đi rải sỏi cùng ông Soliman.
“Ta sẽ đặt cái ghế xích đu cũ ngay đây, sẽ giống như
dưới mái hiên ấy, rồi khi trời mưa ta sẽ ngắm những giọt nước lấm tấm trên mặt
bồn. Paris trời hay mưa mà... Thế rồi ta sẽ nuôi lấy mấy con cóc, vừa khéo để
nghe chúng nghiến răng báo sắp mưa...
- Bọn cóc ăn gì ạ?
- Lũ mòng, bướm đêm, nhậy. Paris nhiều nhậy lắm...
- Phải có cả cây nữa, loại lá dẹt nở hoa màu tím.
- Đúng rồi, hoa sen. Đúng ra là hoa súng, sen thì sang
đông sẽ tàn. Nhưng không phải trong cái bồn tròn này đâu. Ta sẽ có một cái bồn
khác cho lũ cóc, ở cuối vườn. Cái bồn gương này, ta muốn nó cứ phẳng lì như cái
đĩa để bầu trời soi mình trong đó.”
Chỉ mình Ethel hiểu được thái độ khăng khăng của ông
Soliman. Sau khi xem xong bản đồ Triển lãm, ông đã chọn ngay lầu Ấn Độ, và đã
mua nó. Ông đã bác hết những dự định của thằng cháu rể. Không bất động sản trên
đất của ông, không có chuyện động đến dù chỉ một thân cây. Ông đã cho trồng cây
hông, kim tiền, cúc Ấn Độ. Mọi thứ đã sẵn sàng để chào đón niềm đam mê của ông.
“Tôi thì không có thiên hướng làm chủ trại lĩnh canh.”
Để chống lại những dự định của Alexandre, ông đã chọn
Ethel làm người thừa kế chính thức. Dĩ nhiên là cô bé không hay biết gì chuyện
đó. Hay một ngày kia có lẽ ông sẽ nói cho cô bé biết. Ít lâu sau chuyến tham
quan của hai ông cháu tới Triển lãm. Các mảnh tháo rời của lầu Ấn Độ thuộc Pháp
bắt đầu tập kết trong vườn nhà tại phố Armorique. Để phòng mưa, ông Soliman đã
phủ lên một tấm bạt màu đen khổ lớn và xấu xí. Rồi ông dẫn Ethel tới tận hàng
giậu che khuất khu vườn. Ông mở khóa cửa, và cô bé nhìn thấy những chồng đen
này lóe sáng ở cuối khu đất, em đứng sững lại.
“Cháu có biết cái gì đây không? ông Soliman hỏi với
giọng đầy ẩn ý.
- Đó là Ngôi nhà màu tía.”
Ông nhìn em khâm phục.
“Vậy thì cháu có lý đấy.” Ông nói thêm: “Ngôi nhà màu
tía, vậy thì đó sẽ là tên của nó, chính cháu đã tìm ra đấy nhé.” Ông siết chặt
tay em, và em ngỡ đã nhìn thấy cả khoảng sân trong, những hành lang, và bồn
nước mặt gương phản chiếu bầu trời xám xịt. “Ngôi nhà sẽ thuộc về cháu. Chỉ
thuộc về cháu mà thôi.”
Nhưng ông không đả động tới chuyện đó thêm lần nào nữa.
Dẫu sao, ông Soliman luôn là vậy. Thường thì ông nói về chuyện gì cũng chỉ một
lần, rồi không bao giờ nhắc đến nữa.
Ông đã chờ rất lâu. Có lẽ là quá lâu. Có lẽ ông muốn mơ
về chuyện tương lai hơn là bắt tay vào thực hiện. Những mảnh rời của Ngôi nhà
màu tía vẫn nằm dưới tấm bạt nylon, phía cuối vườn, và những cây ngấy bắt đầu
mọc trùm lên. Nhưng ông Soliman vẫn đều đặn đưa Ethel đến khu đất, mỗi tháng ít
nhất một lần. Mùa đông đến, những cây đại thụ xung quanh trơ trụi lá, nhưng đám
cây cối ông Soliman cho trồng vẫn kiên trì chống chọi. Cây kim tiền và khóm cúc
Ấn Độ tạo thành những chùm lá màu xanh thẫm, gợi nhớ lối vào một khu rừng hơn
là một khu vườn trong thành phố. Khu đất kế bên thuộc về
một ông Conard(1)_ nào đó, chuyện thật chứ
không bịa chút nào. Đó là một trong những cư dân lão làng nhất của khu phố, con
trai của người đã mở mang khu phố vào năm 1887. Ông ta ngỡ mình được trao quyền
của nhà chức trách, một hôm ông ta lên tiếng buộc tội ông Soliman: “Tôi thấy
chỉ tại đám lá của mấy thứ cây ngoại lai bên ông mà mấy cây anh đào của tôi
phải cấn nắng suốt từ chính ngọ đến ba giờ chiều đấy.”
Ông trẻ của Ethel có lời phúc đáp khiến đối phương
choáng váng: “Còn tôi ấy mà, thưa ông, tôi mặc xác.” Đó là lần đầu tiên Ethel
nghe thấy cụm từ này, sau đó nó được chính bố em vừa cười ha hả vừa nhắc lại.
Việc ông trẻ sử dụng thứ ngôn ngữ tục tằn hay đúng hơn là thứ ngôn từ lính
tráng (theo lời bình luận của Alexandre) khiến Ethel hết sức vui thích. Cùng
lúc đó, em biết mình không được phép thốt nên những câu ấy, nhất là trước mặt
những người từng phát ngôn chúng. Nhưng như thế cũng tốt.
Trước cả khi công việc lắp ráp Ngôi nhà màu tía có thể
bắt đầu, ông Soliman đã ngã bệnh. Lần cuối cùng Ethel cùng ông đến khu đất, em
đã nhận thấy một sự lạ. Loại cây dại mọc tràn lan khắp khu vườn đã được xén
trụi, và tấm bạt tẩm nhựa đường đã dọn quang đám cây ngấy. Trên cánh cửa bằng
gỗ trông ra phố treo tấm biển có dán giấy phép xây dựng. Em vẫn còn nhớ nội
dung, giấy phép ghi rõ: “Xây dựng một ngôi nhà ở bằng gỗ, không chia tầng.” Ông
Soliman đã phải tranh đấu chống lại kẻ thù Conard, kẻ phản đối dự án mà theo
lão, có khả năng kéo theo mối về Paris. Nhưng sự hậu thuẫn của kiến trúc sư đã
thiết kế ra ngôi nhà gỗ, một ông Perotin nào đó, đã thuyết phục được sở quy
hoạch đô thị, và giấy phép được cấp.
Trên khu đất trơ trụi đó, những cây cọc được dựng lên,
và giữa những cây cọc này là một mạng lưới dây chăng vạch nên sơ đồ ngôi nhà.
Điều khiến Ethel ngạc nhiên là những vệt màu tía đánh dấu trên mặt đất. Lớp
phấn phủ ngoài những sợi dây chăng khi đập vào mặt đất đã để lại dấu. Ông
Soliman đã chỉ cho Ethel thấy người ta in những vạch này như thế nào. Bằng đầu
cây can, nhấc sợi thừng lên, rồi thả rơi, với tiếng động của một cánh cung ta
vừa buông tay. Tạo thành một tiếng phựt! trầm đục, phủ thêm một chút phấn bột
màu tía trên mặt đất.
Đó là lần cuối cùng. Đó là kỷ niệm Ethel còn giữ lại,
như thể thứ ánh sáng êm dịu chiếu sáng bên trong Ngôi nhà màu tía đã tô màu cho
cả lớp bột phấn đánh dấu trên nền đất vườn.
Mùa đông năm ấy, khi Ethel bước sang tuổi mười ba thì
ông Soliman qua đời. Thoạt tiên ông ngã bệnh. Ông khó thở. Ông nằm dài trên
giường, trong phòng ngủ tại căn hộ riêng nằm trên đại lộ Montparnasse. Em đã
thấy ông tái xanh, một gương mặt râu ria xồm xoàm, đôi mắt vô hồn, và em thấy
sợ. Ông nhăn mặt, ông bảo: “Chết khó quá... lâu, lâu quá.” Cứ như thể em hiểu
được. Về đến nhà, em nhắc lại câu ông Soliman nói với mẹ. Nhưng mẹ em không
giải thích gì hết. Bà chỉ thở dài: “Phải cầu nguyện cho ông trẻ của con.” Ethel
không cầu nguyện, bởi em không biết phải cầu gì. Cầu cho ông chết nhanh hơn
chăng, hay là cầu cho ông khỏi bệnh? Em chỉ nghĩ đến Ngôi nhà màu tía, và mong
sao ông Soliman kịp lôi nó ra khỏi tấm bạt tẩm nhựa đường và dựng lên theo dấu.
Nhưng tháng Mười trời mưa rả rích, và em nghĩ những dấu
vết đã bị xóa sạch. Có lẽ chính vào lúc ấy em hiểu ra ông trẻ sẽ chết. |