Sau
tác phẩm đầu tay Hồi ức kẻ sát nhân
(1992) gây tiếng vang lớn, người đọc chờ đợi ở Amélie Nothomb một điều gì đó thật
hài hước, thật mãnh liệt. Hủy hoại vì yêu
đã làm được điều đó. Cuốn “hồi ký” về ba năm sinh sống tại “đất nước của những
chiếc quạt” là bức tranh sắc nét về chiến tranh, tự do, tình yêu và cả những
góc khuất của Trung Quốc giai đoạn 1972-1975 dưới con mắt cô bé năm tuổi sống
khép kín giữa những bức tường của khu ngoại giao đoàn. Biệt tài sử dụng các câu
văn ngắn, súc tích, khả năng châm biếm và tiết chế ngôn từ đến mức khó tin mang
lại sức hút khôn cưỡng cho tác phẩm, khẳng định Nothomb như một trong những nhà
văn Bỉ được chờ đợi nhất với độc giả thế giới.
***
Đôi nét về tác giả Amélie Nothomb
Amélie
Nothomb là nhà văn Bỉ viết tiếng Pháp nhưng chào đời ở Kobe (Nhật Bản) vào ngày
13 tháng 8 năm 1967. Xuất thân trong một gia đình quý tộc có cha làm đại sứ, thời
thơ ấu bà được rong ruổi qua nhiều đất nước từ Nhật Bản, Trung Quốc cho đến Mỹ,
Myanmar,… Hiện bà sống đồng thời tại Bỉ và Pháp.
Hủy hoại vì yêu được
xuất bản lần đầu năm 1993 tại Pháp và đã nhiều lần được chuyển thể trên các sân
khấu kịch. Tác phẩm đã giành được các giải thưởng: Prix de la Vocation và Prix
Jacques Chardonne.
***
Lời khen tặng dành cho Hủy hoại vì yêu
“Amélie
có một khả năng hiếm có, đó là khiến người đọc bật cười về bất cứ điều gì.”
- Le Soir
“Lạ
lẫm và hài hước đến kỳ lạ”
- Le Pélerin *** Trích Hủy hoại vì yêu Theo nhịp phi nước đại trên lưng ngựa, tôi lướt qua những chiếc quạt gió.
Khi đó tôi bảy tuổi. Không có gì dễ chịu hơn khi thật
nhiều không khí tràn ngập đầu óc. Ngựa phi càng nhanh, không khí lùa vào càng
nhiều và thổi bay mọi thứ.
Ngựa của tôi phi đến quảng trường Quạt Lớn, tên thường
gọi là quảng trường Thiên An Môn. Nó rẽ phải vào đại lộ Xấu xí Ở được .
Tôi cầm cương bằng một tay. Còn tay kia vừa bận bịu với
một điều thầm kín của thế giới nội tâm bao la, vừa vuốt ve con ngựa và bầu trời
Bắc Kinh.
Tư thế cưỡi ngựa của tôi quá thanh lịch khiến người qua
đường, những bãi khạc nhổ, lũ lừa và những chiếc quạt phải sửng sốt.
Tôi chẳng cần phải thúc gót vào con ngựa. Đất nước Trung
Quốc đã tạo ra nó theo đúng hình ảnh của tôi: toàn bộ những gì hoành tráng.
Nhiệt huyết bên trong và sự thán phục của đám đông chính là nguồn năng lượng
cho nó.
Ngay từ ngày đầu tiên, tôi đã hiểu ra chân lý: tại Thành
phố Quạt, tất cả những thứ không lộng lẫy, huy hoàng đều xấu
xí.
Điều đó có nghĩa là gần như mọi thứ đều xấu xí.
Hệ quả tức thì: tôi chính là vẻ đẹp của thế giới.
Không phải vì tạo vật bằng da thịt, tóc và xương bảy tuổi
này có
gì làm lu mờ các tạo vật trong mơ
trong những khu vườn của thánh Allah và trong khu biệt cư của cộng đồng quốc
tế.
Vẻ đẹp của thế giới, đó là điệu nhảy thật dài của tôi
ngay giữa ban ngày, là tốc độ chú ngựa của tôi, là trí óc tôi vênh vang giống
như một cánh buồm trước những ngọn gió thổi từ cánh quạt.
Bắc Kinh có mùi như thể một bãi nôn của trẻ con.
Trên đại lộ Xấu xí Ở được, chỉ có tiếng phi nước đại của
ngựa để át đi tiếng khạc nhổ, lệnh cấm tiếp xúc với người Trung Quốc và những
cái nhìn trống rỗng khủng khiếp.
Khi đến gần tường rào, con ngựa phi chậm dần để những
người gác cổng có thể nhận ra tôi. Trông tôi không khả nghi hơn thường lệ.
Tôi bước vào khu biệt cư San Li Tun, nơi tôi sống từ khi nghĩ
ra chuyện viết lách, nghĩa là từ
khoảng hai năm nay, bên cạnh những kẻ từ thời đồ đá, dưới chế độ của Bè lũ Bốn tên.
Wittgenstein có một câu nói bất hủ: “Thế giới chính là
những gì tồn tại”.
Năm 1974, Bắc Kinh không tồn tại: tôi không có cách nào
tốt hơn để miêu tả tình hình.
Wittgenstein không phải là tác giả yêu thích của tôi khi bảy
tuổi. Nhưng tôi đã dùng tam đoạn luận trên đây để đi đến kết luận rằng Bắc Kinh
không có gì liên quan đến thế giới.
Tôi sửa tam đoạn luận này thành: tôi có một con ngựa và
chứng bệnh nuốt hơi trong trí óc.
Tôi có tất cả. Tôi là một sử thi không có hồi kết.
Tôi thấy mình có mối liên quan với Vạn Lý Trường Thành:
đó là công trình duy nhất của nhân loại có thể được nhìn thấy từ mặt trăng, ít
nhất là công trình này đúng với tầm vóc của tôi. Nó không giới hạn tầm nhìn, mà
kéo ra đến vô tận.
Mỗi sáng, một nô tì đến chải tóc cho tôi.
Cô ta không biết mình là nô tì của tôi. Cô ta tưởng mình là người Trung Quốc.
Nhưng thực ra cô ta không có quốc tịch, vì cô ta là nô tì của tôi.
Trước khi đến Bắc Kinh, tôi sống ở Nhật Bản, nơi có những
nô tì giỏi nhất. Còn ở Trung Quốc, chất lượng nô tì không được tốt.
Ở Nhật, khi tôi bốn tuổi, tôi có một nô tì rất sùng bái
chủ. Nó thường xuyên quỳ mọp dưới chân tôi. Thế mới là tốt.
Nữ tì Trung Quốc không biết làm như thế. Buổi sáng, cô ta
bắt đầu bằng việc chải mái tóc dài của tôi: cô ta chải thật thô bạo. Tôi kêu
lên vì đau và thầm nguyền rủa cô ta. Sau đó, cô ta bện tóc tôi thành một hoặc
hai bím rất đẹp bằng nghệ thuật tết tóc có từ thời tổ tiên, thứ nghệ thuật mà
cuộc Cách mạng văn hóa đã không làm mai một. Tôi thích cô ta chỉ tết một bím mà
thôi: có vẻ như một bím tóc sẽ phù hợp hơn với một người cao quý như tôi.
Cô gái người Trung Quốc này tên là Trê, ngay lập tức tôi
đã thấy không thể chấp nhận được cái tên này. Tôi nói rằng cô ta sẽ mang tên người
nô tì Nhật Bản của tôi, đó là một cái tên rất duyên dáng. Cô ta ngơ ngác nhìn
tôi và vẫn giữ tên Trê. Từ hôm ấy, tôi hiểu rằng có cái gì đó đang mục nát
trong nền chính trị của đất nước này.
[...] |