|
| Trang chủ
>
Văn Học Nước Ngoài
>
Đương đại |  | | | NGƯỜI PHÀM
| | | Tác giả: | Philp Roth | |
Dịch giả: | Thùy Vũ | | NXB liên kết: | Văn Học | |
Số trang: | 223 | | Kích thước: | 12 x 20 cm | | Giá bìa: | 43.000
VND | | Ngày phát hành: | 2011 |  |
| Đánh giá của bạn đọc
    
Số người đánh giá:
5 |
|
|
|  | Tên của cuốn tiểu
thuyết mỏng viết bởi một trong những nhà văn đương đại vĩ đại nhất nước Mỹ này
được đặt theo tên một vở kịch dụ ngôn khuyết danh từ thế kỷ mười lăm. Nhưng
không hẳn như vở kịch ấy, Người phàm của thời hiện đại này là một nghệ sĩ thị
trường làm việc cho một hãng quảng cáo ở New York, với ba cuộc hôn nhân thất
bại, ba người vợ hoàn toàn khác nhau, hai đứa con trai căm ghét ông, một cô con
gái yêu thương ông hết mực, một tuổi trẻ sống động theo sau đó là cuộc vật lộn
dai dẳng với bệnh tật và tuổi già dưới hình hài vô số lần phẫu thuật, sáu ống
stent và máy khử rung tim. Philip Roth đã lần theo số phận của Người phàm này
từ lần chạm trán choáng váng với cái chết trên bờ biển New Jersey êm đềm thời
thơ ấu tới những năm tháng sau này, khi ông chứng kiến sự lụi tàn của sinh mệnh
ở những người cùng thời mình, sự hủy hoại của sức khỏe bản thân, và cả lòng tự
tin cùng niềm hy vọng vẫn thường đi kèm sức khỏe ấy. Thông qua người đàn ông
không mang tên này, Philip Roth đã kể một câu chuyện vừa riêng tư vừa phổ quát
về đời người, về mất mát, về tội lỗi, về ân hận, về nỗi sợ hãi, về lòng ham
sống và can đảm vô song của con người trong hành trình đi tới đích cuối của số
phận.
*** Đôi nét về tác giả Philip Roth

Philip Milton Roth (sinh ngày
19/3/1933) tại New Jersey,
Mỹ trong một gia đình Do Thái nhập cư. Ông tốt nghiệp ngành Ngữ văn tại Đại học Bucknell, tiếp đó học cao học Văn chương Anh tại Đại học Chicago. Roth dạy sáng tác tại Đại học Iowa và Princeton. Sự nghiệp học thuật của ông tiếp tục tại Đại
học Pennsylvania cho tới khi về
hưu vào năm 1991.
Philip Roth là nhà
văn đương đại lớn của Mỹ với hai lần được tặng giải thưởng National Book Award, hai lần nhận
giải National Book Critics Circle Award (do giới phê bình
trao), và ba lần nhận giải PEN/Faulkner Award. Năm 1998, ông
nhận giải Pulitzer cho tiểu thuyết American
Pastoral, khắc họa nhân vật nổi
tiếng nhất của ông, Nathan Zuckerman. Năm 2001, The Human Stain, một tiểu thuyết
nữa về Zuckerman, đã giành được giải WH Smith Literary Award của Anh. Năm 2005, Philip Roth trở thành nhà văn Mỹ thứ ba được
Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ xuất bản toàn tập ngay từ khi còn sống. Tập thứ tám dự kiến
sẽ ra đời vào năm 2013.
*** Lời khen tặng dành cho Người phàm
“Cuốn sách nhỏ tinh tế này lấp lánh những bí ẩn và hối tiếc của cả một đời người…” - Lionel Shriver, Daily Telegraph
"Nếu ta tìm chỉ một nhà văn xuất sắc nhất trong vòng hai mươi lăm năm qua, [Roth] sẽ là người chiến thắng.” - Nhà phê bình A.O. Scott, New York Times
“Rất hiếm nhà văn
có thể viết sống động như Roth về sức tàn phá của các cuộc hôn nhân thất bại và
thuyết phục như Roth về sự bất khả của lòng chung thủy hay tình yêu.”
- Tim Adams, Obserbver
“Văn phong của
Roth có vẻ thẳng thắn không thỏa hiệp, nhưng thực ra tinh tế và khéo léo… Một
câu chuyện nhân bản dành cho thời đại chúng ta.”
- A.S. Byatt, New Statesman
“Thiên tài của
cuốn tiểu thuyết ngắn ảm đạm nhưng xuất sắc này đến từ cái cách Roth chuyển
những nhận định u sầu của mình về cái chết thành một điều mang lại sức mạnh: sự
chấp nhận đầy giận dữ rằng đạo đức là cái giá ta cần trả để có được cái kỳ quan
tối thượng mang tên cuộc sống ấy.”
- Douglas Kennedy,
Times
*** Trích tác phẩm Người phàm
[...]
Đứng
quanh huyệt mộ của
ông trong nghĩa trang tiêu điều là vài đồng nghiệp cùng làm quảng cáo ở New
York đang nhắc lại lòng nhiệt huyết và cá tính của ông, bảo Nancy, con gái ông,
rằng được làm việc với ông thật vinh hạnh biết mấy. Có cả những người đã lái xe
tới từ tận Starfish Beach, làng hưu trí ở Bờ biển Jerseynơi ông sống từ dịp Lễ Tạ ơn
năm 2001 - những người già cả chỉ mới đây thôi còn ngồi học lớp nghệ thuật do
ông dạy. Hai con trai ông, Randy và Lonny, kết quả của cuộc hôn nhân đầu tiên
đầy sóng gió, giờ đã là hai gã trung niên, cũng có mặt, vốn là con ngoan của
mẹ, do đó chỉ biết rất ít về những gì đáng ngợi khen ở ông nhưng lại rất nhiều
về những gì đáng tởm - họ có mặt chỉ vì nghĩa vụ, chấm hết. Anh trai ông,
Howie, cũng tới cùng vợ, bay từ tận California, chuyến đêm qua, ngoài ra còn có
một trong ba bà vợ cũ của ông, bà thứ hai, mẹ của Nancy, Phoebe, một phụ nữ
cao, gầy tong teo, tóc trắng, cánh tay phải buông thõng một bên như bị liệt.
Khi Nancy hỏi bà có muốn phát biểu gì không, Phoebe bẽn
lẽn lắc đầu nhưng rồi cũng tiến lên phía trước khẽ cất tiếng, lời phát biểu
nghe không rõ ràng. “Đúng là khó tin quá. Tôi vẫn cứ nghĩ ông ấy còn đang bơi
trong vịnh - thế đấy. Thực sự tôi vẫn nhìn thấy ông ấy bơi trong vịnh.” Rồi đến
lượt Nancy, người đã tổ chức tang lễ này và gọi điện báo cho những người đang
hiện diện ở đây, để những người tới dự sẽ không chỉ có mình cô, mẹ và vợ chồng
hai bác. Chỉ một người có mặt mà không cần mời, một phụ nữ đồ sộ có khuôn mặt
tròn phúc hậu và mái tóc nhuộm đỏ, cô cứ thế xuất hiện ở nghĩa trang và tự giới
thiệu là Maureen, y tá tư, người đã chăm sóc ông trong suốt cuộc phẫu thuật tim
nhiều năm về trước. Howie nhớ ra cô và bước lên thơm má.
Nancy
nói với mọi người, “Có lẽ tôi sẽ bắt đầu bằng việc nói gì đó về nghĩa trang
này, bởi tôi vừa phát hiện ra rằng ông của ba tôi, cụ nội tôi, không những được
chôn bên cụ bà ở nghĩa trang này từ những ngày đầu, mà còn là một trong những
người sáng lập nó vào năm 1888. Những hiệp hội an táng thuộc các tổ chức từ
thiện Do Thái cùng các giáo đoàn rải rác ở hạt Union và hạt Essex đã chung tay tài trợ và khởi dựng
nghĩa trang này. Cụ nội tôi sở hữu và điều hành một nhà trọ ở Elizabeth,
đặc biệt phục vụ những người nhập cư mới tới, và cụ chăm lo cho đời sống của họ
hơn nhiều một chủ nhà thông thường. Đó là lý do cụ trở thành một trong những
người đầu tiên mua lại khu đất trống nơi đây, tự tay cải tạo và trang trí lại
nó, là lý do tại sao cụ chính là chủ tịch đầu tiên của nghĩa trang. Khi ấy cụ
còn khá trẻ nhưng đầy nhiệt huyết, và chỉ mình cụ được ký tên trong văn bản xác
định rõ nghĩa trang này là để ‘chôn cất những thành viên đã qua đời theo luật
lệ và lễ nghi Do Thái.’ Như tất cả chúng ta đều thấy, ngày nay việc chăm sóc
từng mộ phần, hàng rào và cổng chẳng được như cần có. Mọi thứ đều mục nát và
sụp đổ, cổng thì gỉ sét, ổ khóa cũng chẳng còn, nạn phá hoại của công vẫn diễn
ra. Giờ đây nơi này đã trở thành nơi tiếp giáp với sân bay và âm thanh mà các
vị đang nghe thấy là tiếng ầm ì đều đặn của đường cao tốc New Jersey Turnpike
cách đây vài dặm. Dĩ nhiên ban đầu tôi nghĩ nên chôn ba mình ở những nơi tuyệt
đẹp khác, nơi ông và mẹ tôi vẫn cùng nhau bơi lội thời cả hai còn trẻ, hay trên
bờ vùng biển mà ông vẫn thích bơi. Nhưng rồi dù cho nhìn thấy cảnh điêu tàn ở
nơi đây là tim tôi tan nát - có thể các vị cũng vậy, thậm chí có thể các vị còn
tự hỏi sao chúng ta lại đang tụ tập trên một mảnh đất bị thời gian tàn phá thế
này - tôi vẫn muốn ba được nằm gần những người thương yêu ông, sinh ra ông. Ba
tôi yêu ông bà tôi, và ông nên ở gần họ. Tôi không muốn ông phải nằm đâu đó một
mình.” Cô im lặng một lát để bình tĩnh trở lại. Là một phụ nữ ngoài ba mươi với
gương mặt dịu hiền, đẹp giản dị như mẹ cô thời trẻ, trông thoáng qua cũng thấy
cô chẳng có vẻ gì quyền uy hay thậm chí can đảm cũng không mà chỉ giống như một
đứa trẻ lên mười đang trong cơn xúc động. Quay sang hướng quan tài, cô nhặt lên
một nắm đất và, trước khi thả nó xuống nắp, khẽ khàng nói, vẫn với vẻ của một
cô bé hoang mang, “Ba à, rốt cuộc là vậy đây. Chúng con chẳng thể làm gì hơn
nữa.” Rồi cô nhớ lại phương châm sống khắc kỷ của ông suốt hàng thập kỷ qua và
bắt đầu bật khóc. “Chuyện đã xảy ra chẳng cách nào làm lại,” cô nói với ông.
“Chỉ có thể đón nhận khi nó tới. Đứng vững và đón nhận khi nó tới.”
Người
tiếp theo ném đất lên nắp quan tài là Howie, hồi họ còn nhỏ Howie là đối tượng
cho lòng sùng bái của ông, và để đáp lại Howie đã luôn đối xử với ông bằng sự
dịu dàng và trìu mến, kiên nhẫn dạy ông đi xe đạp, bơi và chơi mọi môn thể thao
mà Howie vốn chơi xuất sắc. Có vẻ như giờ Howie vẫn có thể ôm bóng bầu dục chạy
qua giữa vạch, mặc dù đã bảy mươi bảy tuổi. Howie chưa từng phải nhập viện vì
bất cứ lý do gì và, tuy cùng sinh ra trong một gia đình như ông, nhưng Howie
vẫn duy trì được sức khỏe vô địch từ lúc chào đời.
Giọng
Howie khản đặc vì xúc động khi thì thầm với vợ, “Em trai anh đấy. Thật vô lý.”
Rồi ông cũng nói với mọi người. “Để xem tôi có làm được không nhé. Giờ ta hãy
nói về anh chàng này. Về em trai tôi...” Ông dừng lại để sắp xếp lại suy nghĩ
sao cho có thể nói mạch lạc. Cách ông nói và âm vực dễ chịu của ông giống em
trai ông đến mức Phoebe bắt đầu khóc, và Nancy vội khoác lấy tay bà. “Những năm cuối
đời,” ông nói, nhìn trân trân về phía huyệt, “chú ấy gặp phải nhiều vấn đề sức
khỏe, và cô đơn - cũng là một vấn đề chẳng kém cạnh gì. Chúng tôi vẫn thường
xuyên điện thoại mỗi khi có thể, mặc dù càng về cuối đời chú ấy càng tách mình
khỏi tôi, vì những lý do chưa bao giờ nói rõ. Từ hồi học phổ thông chú ấy đã
mang trong mình khao khát vẽ tranh khôn cưỡng, và sau khi nghỉ hưu ngành quảng
cáo, nơi chú ấy đã gặt hái được thành công đáng kể, đầu tiên là giám đốc nghệ
thuật rồi thăng tiến thành giám đốc sáng tạo - sau đời làm quảng cáo, thực tế
là ngày nào chú ấy cũng vẽ, liên tục suốt những năm còn lại của đời mình. Về
chú ấy, chúng ta chỉ có thể nói điều mà chắc chắn những người khác đã nói về
người thân yêu đã khuất của họ: lẽ ra chú ấy nên được sống lâu hơn. Thực tình
nên như thế.” Đến đây, sau một thoáng im lặng, vẻ ảm đạm cam chịu trên khuôn
mặt ông nhường chỗ cho một nụ cười buồn bã. “Hồi tôi mới lên cấp ba và chiều
nào cũng phải tập với đội, chú ấy làm thay mọi việc vặt tôi vẫn phải làm giúp
cha sau giờ học. Chú ấy mê mẩn khi được làm một đứa trẻ chín tuổi mang phong bì
đựng kim cương trong túi áo khoác bắt xe buýt tới Newark, nơi những chuyên gia
giám định, định cỡ, thợ đánh bóng và tay thợ sửa đồng hồ cha chúng tôi thường
thuê vẫn ẩn náu, mỗi người trong một cái tổ riêng trên đại lộ Frelinghuysen.
Những chuyến chạy việc như thế khiến thằng bé vô cùng thích thú. Tôi nghĩ ý
tưởng làm nghệ thuật bằng chính đôi tay mình của chú ấy đã được khơi gợi từ
việc quan sát mấy nghệ nhân này làm công việc đơn độc của họ trong những không
gian tí xíu chật hẹp như thế. Ngoài ra tôi nghĩ việc nhìn từng mặt của viên kim
cương qua kính lúp kim hoàn của cha tôi cũng là một yếu tố nuôi dưỡng trong chú
ấy khát vọng làm nghệ thuật.” Một tiếng cười đột nhiên vuột ra khỏi Howie, một
phút giải lao bối rối khỏi nhiệm vụ, rồi ông nói, “Còn tôi chỉ là gã anh trai
kiểu cổ truyền. Với tôi kim cương chỉ nuôi dưỡng khát vọng kiếm tiền.” Rồi ông
lại nói tiếp đoạn bỏ dở, vừa nói vừa nhìn qua khung cửa sổ lớn ngập tràn ánh
nắng của những năm tháng thiếu thời. “Cha chúng tôi thuê đăng một mẩu quảng cáo
nhỏ trên tờ Nhật báo Elizabeth mỗi tháng một lần. Vào mùa lễ hội,
khoảng từ Lễ Tạ ơn đến Giáng sinh thì tuần một lần. ‘Đổi đồng hồ cũ lấy đồng hồ
mới.’ Toàn bộ số đồng hồ cũ ông tích cóp được - hầu hết số đó vô phương sửa
chữa - được chất đống trong một ngăn kéo phía sau tiệm. Em trai tôi có thể ngồi
đó hàng giờ, xoay xoay kim và lắng nghe tiếng tíc tắc, nếu chúng còn kêu được,
và xem xét kỹ từng cái mặt đến từng cái hộp đồng hồ. Thằng bé say mê việc đó. Chứa chừng một hai
trăm chiếc đồng hồ cũ, cả cái ngăn kéo đầy ự đó có lẽ cũng không bán nổi mười
đô, nhưng dưới con mắt mầm non nghệ sĩ ấy, cái ngăn kéo đồng hồ ở căn phòng
khuất nẻo này là một rương kho báu. Chú ấy thường lấy đồng hồ đeo - lúc nào
trên tay chú ấy cũng đeo một chiếc lấy từ cái ngăn kéo ấy. Một trong số những
chiếc còn chạy. Và những chiếc chú ấy cố sửa cho chạy được, rồi những chiếc có
vẻ ngoài làm chú ấy thích, chú ấy tẩn mẩn sửa nhưng chẳng ích gì - thường thì
chú ấy chỉ làm chúng hỏng thêm. Tuy vậy, đó vẫn là khởi đầu của quá trình sử
dụng đôi tay làm những việc tỉ mỉ. Cha tôi luôn thuê hai cô gái giúp việc sau
quầy - vừa tốt nghiệp cấp ba, chừng mười chín hai mươi. Những cô gái vùng
Elizabeth xinh đẹp, ngọt ngào, những cô gái lịch sự, gọn gàng, chủ yếu là dân
Công giáo Ai Len, có cha anh chú bác làm việc cho hãng máy khâu Singer, công ty
bánh quy hay dưới cảng. Ông cho rằng các cô gái Thiên Chúa giáo xinh đẹp sẽ
khiến khách thấy thoải mái hơn. Nếu được yêu cầu, các cô sẽ đeo thử trang sức
cho khách xem, sắm luôn vai người mẫu, và nếu may mắn, bà khách rốt cuộc sẽ
mua. Theo lời cha bảo chúng tôi, khi một phụ nữ trẻ đeo một món trang sức,
những phụ nữ khác sẽ nghĩ nếu đeo vào trông mình cũng được như vậy. Những anh
chàng từ bến tàu lên đây tìm mua nhẫn đính hôn và nhẫn cưới cho người yêu đôi
khi còn cả gan cầm lấy tay cô bán hàng đưa lên gần mắt mà ngắm viên đá cho rõ.
Em trai tôi cũng thích ở gần mấy cô, dù còn phải rất lâu sau chú ấy mới bắt đầu
hiểu thứ mà mình thích thú đến vậy là gì. Cuối ngày nào chú ấy cũng giúp các cô
dọn cửa sổ và kệ trưng bày. Chú ấy chẳng từ việc gì để giúp họ. Họ cất hết đồ
trưng bày trên cửa sổ và kệ, chỉ trừ những món rẻ nhất, và ngay trước giờ đóng
cửa chú bé ấy sẽ mở cái két sắt to ở phòng phía sau bằng mã số mà cha tôi đã
tín nhiệm trao cho. Tất cả những việc này tôi đều từng làm trước chú ấy, bao
gồm cả việc tiếp cận các cô gái, đặc biệt là hai chị em tóc vàng tên là Harriet
và May. Trải qua nhiều năm, ở đó từng có Harriet, May, Annmarie, Jean, có Myra,
Mary, Patty, có Kathleen và Corine, và trong mắt chú bé ấy từng người một đều
như thể lấp lánh. Corine, người đẹp tuyệt trần, cứ đầu tháng Mười một lại ngồi
bên bàn làm việc trong phòng phía sau cùng cậu em nhỏ của tôi ghi địa chỉ cho
những catalô mà tiệm đã in rồi gửi tới tất cả khách hàng nhân dịp mùa mua sắm
lễ hội, hồi đó cha tôi còn mở cửa sáu ngày một tuần và ai cũng làm việc như
lừa. Nếu đưa cho em tôi một hộp phong bì, chú ấy sẽ đếm chúng nhanh hơn bất kỳ
ai khác vì ngón tay chú ấy dẻo và vì chú ấy đếm năm cái một. Tôi nhìn và, hẳn
rồi, chú ấy làm thế đấy: khoe tài với mớ phong bì để gây ấn tượng với Corine.
Cậu bé ấy mới yêu thích mọi thứ đi kèm với vị trí đứa con trai đáng tin cậy của
ông chủ tiệm kim hoàn làm sao! Đó là từ cha tôi ưa thích khi khen ai - ‘đáng
tin cậy.’ Trong nhiều năm cha tôi đã bán nhẫn cưới cho những người Ai len người
Đức người Slovakia người Ý người Ba Lan ở Elizabeth,
hầu hết bọn họ đều là những người lao động thô kệch trẻ tuổi. Thường thì mua
nhẫn xong, họ sẽ mời chúng tôi, cả nhà chúng tôi, tới dự đám cưới. Mọi người
đều yêu quý cha tôi - ông có khiếu hài hước, bán giá thấp và gia hạn trả góp
cho bất kỳ ai, vậy là chúng tôi đi - đầu tiên là tới nhà thờ, tiếp đến là những
bữa tiệc tùng ồn ã. Có Suy thoái, có chiến tranh, nhưng cũng có những đám cưới,
có những cô bán hàng và những chuyến đi tới Newark trên xe buýt với số kim
cương trị giá hàng trăm đô la đựng trong phong bì giấu kín trong những túi áo
khoác len mặc trên người. Bên ngoài mỗi phong bì là lời hướng dẫn của cha tôi
dành cho người định cỡ hay chế tác. Có một cái két sắt hiệu Mosley cao đến mét
rưỡi, khía rãnh để tối tối chúng tôi cẩn thận cất hết các khay trang sức vào đó
và sáng sáng lại lấy ra... và tất cả những điều này đã cấu thành cốt lõi của
cuộc đời em tôi với tư cách một cậu bé ngoan.” Ánh mắt Howie lại dừng lại trên
quan tài. “Giờ thì sao đây?” ông nói. “Tôi nghĩ tốt hơn là cứ thế này đi. Nói
tiếp nói mãi, tưởng nhớ nhiều hơn... mà sao lại không tưởng nhớ chứ? Thêm một
lít nước mắt nữa của gia đình và bạn bè thì cũng có là gì? Khi cha chúng tôi
mất em tôi đã hỏi nếu chú ấy lấy cái đồng hồ của cha thì tôi có thấy sao không?
Đó là một chiếc hiệu Hamilton,
chế tạo ở Lancaster, Pennsylvania,
và theo lời chuyên gia thì nó là sếp, là chiếc đồng hồ tốt nhất mà đất nước này
từng làm ra. Bán cái nào cha cũng thuyết phục được khách hàng an tâm rằng anh
ta không lầm. ‘Thấy không, chính tôi cũng đeo một chiếc đây này. Một chiếc đồng
hồ rất rất được ngưỡng mộ, chiếc Hamilton.
Đối với tôi,’ ông ấy nói, ‘đây là chiếc đồng hồ số một do Mỹ sản xuất, độc nhất
vô nhị.’ Bảy mươi chín đô năm mươi, nếu tôi nhớ không nhầm. Ngày ấy giá của mọi
món đồ bán ra đều phải có đuôi là năm mươi. Danh tiếng của Hamilton rất lớn. Nó là một loại đồng hồ đẳng cấp, cha tôi
thực lòng yêu chiếc Hamilton của ông, và khi em tôi nói chú ấy muốn
sở hữu nó, tôi đã không thể vui hơn. Chú ấy còn có thể lấy luôn chiếc kính lúp
và cái hộp đựng kim cương dùng khi đi lại của cha tôi. Đó là một chiếc hộp da
cũ sờn mà ông luôn mang theo trong túi áo khoác mỗi lần phải đi làm việc bên
ngoài tiệm: trong đó có một cái nhíp, một cái tua vít tí hon, một vòng đo kích
cỡ nhỏ để đo kích thước của viên đá dạng tròn và mấy tờ giấy trắng gập lại để
hứng bụi kim cương. Những dụng cụ nhỏ bé đẹp đẽ, thân thương mà ông từng cầm
trong tay và cất bên trái tim, nhưng chúng tôi đã quyết định chôn theo ông,
kính lúp và cái hộp cùng toàn bộ những gì trong đó. Ông luôn để kính lúp ở một
bên túi áo còn thuốc lá ở bên kia, nên chúng tôi gắn kính vào trong vải liệm.
Tôi nhớ khi ấy em tôi nói, ‘Đúng ra thì chúng ta nên gắn nó lên mắt ông.’ Nỗi
đau buồn có thể làm thế với người ta đấy. Chúng tôi đã từng suy sụp đến thế
đấy. Chúng tôi chẳng biết làm gì nữa. Dù đúng hay sai, ngoài việc đó ra dường
như với chúng tôi chẳng còn gì nên làm nữa. Bởi vì chúng không chỉ là của ông - chúng còn là ông... Để kết lại chuyện về
chiếc Hamilton,
chiếc đồng hồ cũ của cha tôi, chiếc đồng hồ mà sáng sáng ta sẽ phải xoay núm để
lên dây rồi phải tháo cả mặt ra để chỉnh lại kim... trừ khi đi bơi, em tôi luôn
đeo nó, cả ngày lẫn đêm. Chú ấy chỉ vừa mới vĩnh viễn tháo nó ra cách đây bốn
mươi tám giờ. Chú ấy còn đưa cho y tá nhờ cất kỹ cho an toàn trong lúc mình bận
trải qua cuộc phẫu thuật đã giết chết chú ấy đó. Sáng nay lúc trên xe đi ra
nghĩa trang, cháu Nancy đã cho tôi thấy cháu đã tiếp nối truyền thống gia đình
và giờ cháu đang đeo đồng hồ Hamilton để xem giờ.”
Rồi
đến hai con trai, những người đàn ông gần năm mươi; với mái tóc đen bóng, đôi
mắt đen biết nói và khuôn miệng giống hệt nhau, rộng, đầy đặn, gợi cảm, họ
trông giống hệt cha (và bác) mình hồi ở tuổi đó. Hai người đàn ông đẹp trai ấy
bắt đầu lừng lững đứng lên và có vẻ như sự gần gũi trong mối gắn kết giữa họ
cũng lớn như sự xa lạ bất khả hòa giải giữa họ với người cha đã mất. Người em,
Lonny, bước tới ngôi mộ trước. Nhưng khi đã cầm nắm đất trong tay, toàn thân
ông bắt đầu run lên bần bật, trông cứ như thể sắp sửa nôn mửa dữ dội đến nơi.
Trong ông tràn ngập một thứ tình cảm dành cho cha, không phải lòng thù hận,
nhưng lòng thù hận vốn dĩ của ông đã tước đi khỏi ông phương tiện để bộc lộ
tình cảm ấy. Khi ông mở miệng, chẳng có gì phát ra ngoại trừ một loạt tiếng hổn
hển kỳ cục, khiến người ta thấy có vẻ như cái thứ đang bóp nghẹt ông kia, dù nó
có là gì, sẽ không bao giờ buông tay. Ông ở trong một tình trạng tuyệt vọng đến
mức Randy, người anh, người con quyết đoán hơn, hay gắt gỏng hơn, phải lập tức
ra giải cứu. Ông lấy nắm đất lại từ tay em trai rồi đại diện cho cả hai ném lên
quan tài. Và ông đã dễ dàng thành công khi lên tiếng phát biểu. “An giấc nhé
cha,” Randy nói, nhưng trong giọng ông tuyệt nhiên không thể hiện bất cứ sắc độ
nào của sự dịu dàng, nỗi đau thương, tình yêu hay mất mát.
Người
cuối cùng tiến đến quan tài là Maureen, y tá trực riêng, một chiến binh ngay từ
vẻ bề ngoài và chẳng hề xa lạ với cả sự sống lẫn cái chết. Khi cô mỉm cười để
nắm đất từ từ trôi qua lòng bàn tay nắm lại, ra khỏi mé bàn tay mà rơi lên nắp
quan tài, cử chỉ ấy trông như khúc dạo đầu cho một cảnh nhục dục. Rõ ràng đây
là người đàn ông từng khiến cô suy nghĩ nhiều.
Vậy
là hết. Chưa có điểm gì đặc biệt được nói ra. Tất cả bọn họ đã nói những gì cần
nói rồi sao? Không, chưa đâu, à mà cũng đúng, dĩ nhiên họ đã nói hết. Ngày hôm
ấy trên khắp bang đã có năm trăm đám tang thế này, hằng ngày, bình thường, và
ngoại trừ ba mươi giây bất thường do hai người con trai mang lại - và màn tái
dựng chính xác đến chi li của Howie về cái thế giới từng tồn tại ngây thơ trước
khi cái chết được tạo ra, cuộc sống vĩnh hằng trong vườn địa đàng mà cha họ gây
dựng, một thiên đường bốn mét rưỡi chiều rộng nhân mười hai mét chiều dài ngụy
trang trong hình hài một tiệm trang sức - đám tang này chẳng hề thú vị hơn hoặc
kém bất cứ đám nào trong số đó. Nhưng chính tính phổ biến mới là thứ dễ gây đớn
đau nhất, ghi nhận thêm một lần nữa sự thật về cái chết: nó lấn át mọi thứ.
Trong
vòng vài phút, mọi người đều đã đi - rã rời bước đi trong nước mắt ra xa khỏi
hoạt động ít được ưa chuộng nhất của giống loài chúng ta - và ông bị bỏ lại
phía sau. Dĩ nhiên, mỗi khi ai đó qua đời, dù rất nhiều người sẽ buồn đau,
nhiều người khác vẫn sẽ bình thản, hoặc thấy nhẹ nhõm, hoặc, dù vì lý do tốt
hay không, thành thực hài lòng.
[...]
|  | | | |
|
|
|
|
|
Cuốn sách như một bộ bách khoa toàn thư
độc đáo và cuốn hút với sức hấp dẫn của văn chương hạng nhất này đã ra đời từ
năm 1980, song nếu tính theo thang thời gian vũ trụ thì nó chỉ vừa được viết
xong, đúng như tinh thần một câu trong sách này - “Vũ trụ chỉ mới được khám phá
ngày hôm qua” (tr.571).
|
|
|
|
|