Khách sạn Cá Heo méo mó, quá chật hẹp. Nó
giống một cây cầu dài có mái che hơn. Một cây cầu trải dài vô tận xuyên thời
gian. Và tôi đang ở đó, giữa cái chốn ấy. Một ai khác nữa cũng có ở đó, đang
khóc.
Khách sạn bao bọc quanh tôi. Tôi có thể
cảm nhận nhịp và hơi ấm của nó. Trong mơ, tôi là một phần của khách sạn.
Tôi tỉnh dậy, nhưng ở chốn nào? Tôi không
chỉ thoáng nghĩ như thế, mà còn tự cất tiếng hỏi mình: “Ta đang ở đâu?” Như thể
không hề biết rằng: Tôi đang ở đây. Trong cuộc đời tôi. Sự tồn tại của tôi là
một đặc tính của thế giới này. Không phải vì tôi nhớ rõ rằng mình từng chấp
thuận những sự kiện, hoàn cảnh, tình huống này mà trong đó tôi là nhân vật
chính. Đôi khi có một người đàn bà nằm cạnh tôi. Nhưng thường thì tôi ở một
mình. Chỉ mình tôi với con đường cao tốc chạy qua bên cạnh căn hộ, cạnh giường
có một chiếc ly (còn chừng năm milimet whiskey trong ấy) và tia nắng ban mai
hiểm độc - không, phải là dửng dưng mới đúng - đầy bụi bặm. Thi thoảng trời đổ
mưa. Nếu mưa, tôi sẽ nằm lì trên giường. Nếu trong ly vẫn còn whiskey, tôi sẽ
nhấp một chút. Tôi sẽ ngắm những giọt nước mưa nhỏ xuống từ mái hiên, rồi tôi
sẽ nghĩ về khách sạn Cá Heo. Có lẽ tôi sẽ vươn mình, khoan khoái và chậm rãi.
Đủ để chắc chắn rằng tôi là chính mình chứ không phải một phần của cái gì đó.
Nhưng, tôi sẽ nhớ lại cảm giác trong giấc mơ. Nhiều tới mức tôi thề là mình có
thể vươn tay ra chạm vào nó, rồi toàn bộ cái gì đó bao gồm cả tôi sẽ
dịch chuyển. Nếu căng tai ra, tôi sẽ nghe được chuỗi hành động chậm chạp và cẩn
trọng đang diễn ra, như những giọt nước trong một bộ trò chơi nước chảy phức
tạp và rắc rối, lần lượt, giọt nọ nối giọt kia. Tôi chăm chú lắng nghe. Đó là
lúc tôi nghe thấy tiếng ai đó đang khóc, rất khẽ, đến mức gần như không thể
nhận thấy. Một tiếng nức nở từ đâu đó trong bóng tối thăm thẳm. Ai đó đang rơi
lệ vì tôi.
Khách sạn Cá Heo là một khách sạn có thật.
Nó nằm trong một khu bình dân ở Sapporo. Có lần, cách đây vài năm, tôi đã ở đó
một tuần. Không, để tôi nhớ kỹ xem. Cách đây bao nhiêu năm rồi nhỉ? Bốn. Hay
chính xác hơn là bốn năm rưỡi. Tôi lúc đó vẫn còn hai mấy tuổi. Tôi và người đàn
bà mình đang sống chung khi ấy vào thuê phòng tại khách sạn Cá Heo. Nàng đã
chọn nơi này. Chúng mình sẽ ở đây, đó là những gì nàng đã nói. Nếu không
phải vì nàng, tôi ngờ rằng mình sẽ chẳng bao giờ đặt chân tới chỗ đó.
Đó là một khách sạn nhỏ xập xệ. Suốt thời
gian ở đó, tôi không biết mình có thấy vị khách nào khác không. Đôi khi có vài
nhân vật lượn lờ trong sảnh, nhưng ai mà biết họ có trọ ở đấy hay không? Bảng
giữ chìa khóa phòng ở sau bàn lễ tân luôn trống vài chỗ, nên tôi đoán chắc cũng
còn vài người khách khác. Dù không nhiều lắm. Ý tôi là một khi đã treo biển
khách sạn trong một thành phố lớn, đăng ký số điện thoại vào danh mục kinh
doanh, hiển nhiên không ai lại tiếp tục hoạt động mà không có khách. Nhưng dẫu
đúng là ngoài chúng tôi ra còn có những khách trọ khác, thì họ quả là im ắng
kinh khủng. Chúng tôi không nghe được âm thanh nào từ họ, cũng hiếm khi nhìn ra
dấu hiệu nào cho thấy sự hiện diện của họ - ngoại trừ vị trí những chiếc chìa
khóa trên bảng giữ chìa khóa có chút thay đổi mỗi ngày. Phải chăng họ giống như
những cái bóng nín thở trườn dọc theo tường hành lang? Đôi khi chúng tôi nghe
thấy tiếng lách cách đều đều của thang máy, nhưng khi nó dừng lại, sự tĩnh mịch
đến ngột ngạt lại ập xuống.
Một khách sạn bí ẩn.
Nó gợi cho tôi liên tưởng đến trạng thái
ngưng trệ trong quá trình tiến hóa của sinh vật. Một sự thoái hóa gien. Một sự
cố quái đản của tự nhiên đã khiến vài sinh vật lạc lối, không đường trở lại.
Vector tiến hóa đã biến mất, thể sống mồ côi bị bỏ lại run rẩy đằng sau tấm màn
lịch sử, tại Miền Đất Bị Thời Gian Lãng Quên. Và không phải lỗi tại ai. Không
ai chịu trách nhiệm, không ai cứu vớt nó.
Lẽ ra người ta không nên xây khách sạn này
tại vị trí ấy. Đó là sai lầm đầu tiên, rồi mọi thứ tệ hại đi từ đó. Tựa như một
cái nút áo bị gài sai, mọi cố gắng sửa chữa đều chỉ dẫn tới một sự hỗn độn tinh
vi - nếu không nói là tao nhã - khác. Không thứ gì có vẻ đúng cả. Nhìn vào bất
cứ thứ gì nơi đây là ta sẽ thấy mình đang nghiêng đầu đi vài độ. Không đến mức
gây hại gì cho bản thân hay tới độ trông quá đỗi kỳ cục. Nhưng ai mà biết được?
Có khi bạn lại quen với việc nhìn mọi thứ nghiêng nghiêng (nhưng nếu vậy, bạn
sẽ không còn ngắm được thế giới mà không phải vẹo đầu đi nữa).
Đó là khách sạn Cá Heo. Nó thiếu thốn sự
bình thường. Hỗn độn chồng chất hỗn độn cho tới khi đạt tới độ bão hòa, thứ
được định sẵn là trong một tương lai không-quá-xa xôi sẽ bị nuốt chửng vào dòng
xoáy thời gian. Chỉ thoáng nhìn qua ai cũng nhận ra điều ấy. Một nơi đáng
thương, ủ dột như một con chó đen ba chân sũng nước dưới cơn mưa tháng Mười
hai. Những khách sạn buồn tẻ có ở khắp nơi, chắc chắn rồi, nhưng Cá Heo thuộc
một phân loại riêng của nó. Khách sạn Cá Heo thiểu não đúng theo nghĩa đen của
từ ấy. Một khách sạn thảm thương.
Nó cứ thầm lặng tồn tại, để rồi, ngoại trừ
những kẻ khốn khó và không hay nghi ngờ tình cờ lạc bước, không người nào lại
sẵn lòng chọn nó làm nơi nghỉ chân.
Khác xa so với cái tên của nó, (cái tên
“Cá Heo” gợi tôi nghĩ đến một khách sạn nghỉ dưỡng có màu trắng tinh khiết như
viên kẹo đường bên bờ biển Êgiê), nếu không có tấm biển treo bên ngoài, hẳn sẽ
không ai biết tòa nhà là một khách sạn. Thậm chí dẫu có tấm biển hiệu và bảng
đồng ngay lối ra vào, trông nó gần như không có nổi một phần giống khách sạn.
Thực sự nó giống một viện bảo tàng hơn. Một kiểu bảo tàng kỳ quái nơi những kẻ
có thói tò mò kỳ quái lẻn vào để ngắm nghía những vật trưng bày kỳ quái.
Điều này cũng không xa sự thật là mấy.
Khách sạn Cá Heo quả thực có một phần như viện bảo tàng vậy. Nhưng tôi muốn
hỏi, liệu có ai muốn ở lại trong một khách sạn như thế? Ở trong một lữ quán
kiêm hòm để thánh tích, các dãy hành lang tối đen của nó chất đầy những da và
lông cừu đầy nấm đầy mọt, sách vở tài liệu mốc meo cùng những tấm ảnh ố màu?
Trong một khách sạn mà các góc nhà đóng két những giấc mơ dang dở?
Đồ đạc đã bạc màu, bàn ghế ọp ẹp, khóa cửa
thì hỏng. Ván sàn sây sước, bóng đèn tối mờ; khớp nối của vòi nước chậu rửa mặt
thì bị lệch, không thể ngăn nước rỉ xuống. Một bà phục vụ to béo nện đôi chân
voi đi qua các hành lang, nặng nề ho lên những tiếng báo hiệu điềm chẳng lành.
Luôn thường trực sau bàn lễ tân là gã chủ trung niên với đôi mắt ủ rũ và hai
ngón tay bị cụt. Đó là kiểu người mà, thoạt nhìn bề ngoài đã thấy, mọi thứ của
gã đều không ổn. Một mẫu vật thực sự - vừa được rớt khỏi chất dịch màu xanh
nhàn nhạt sau khi bị ngâm cả đêm, với linh hồn hằn dấu bởi bất hạnh, thảm hại
và thất bại. Người ta sẽ muốn đặt gã vào một hòm thủy tinh, khuân tới lớp
nghiên cứu khoa học và giới thiệu: Chủng người Vô thành tựu. Hầu như bất
cứ ai từng gặp gã đều ít nhiều cảm thấy ngao ngán. Không ít người sẽ nổi cáu
(một số người thấy khó chịu khi thấy những hình mẫu thảm hại của loài người).
Vậy ai sẽ ở trong cái khách sạn đó cơ chứ?
Thế đấy, chúng tôi đã ở đó. Chúng
mình sẽ ở lại chỗ này, nàng nói. Rồi sau đó nàng biến mất. Nàng bước ra rồi
đi mất. Người Cừu đã kể với tôi như vậy. Ngườiđànbàđãbỏđimộtmìnhchiềunay, Người
Cừu nói. Bằng cách nào đó, Người Cừu đã biết. Ông ta biết rằng nàng sẽ ra đi.
Giờ tôi cũng hiểu ra rồi. Mục đích của nàng là dẫn dụ tôi tới đây. Như thể đó
là số mệnh của nàng. Như dòng Moldau chảy ra biển lớn. Như mưa rơi.
Ngay khi tôi bắt đầu có những giấc mơ về
khách sạn Cá Heo, nàng luôn là hình ảnh trước tiên xuất hiện trong đầu. Nàng
đang tìm kiếm tôi. Nếu không, tại sao tôi cứ lặp đi lặp lại cùng một giấc mơ
ấy?
Nàng. Nàng tên là gì? Chúng tôi đã sống
với nhau vài tháng nhưng tôi chưa bao giờ biết điều đó. Thực sự thì, tôi
đã biết gì về nàng? Nàng là nhân viên trong một câu lạc bộ gái gọi cao cấp. Một
câu lạc bộ chỉ dành cho hội viên; những kẻ có địa vị không-hoàn-hảo không được
hoan nghênh. Như vậy, nàng là một con điếm hạng sang. Ngoài ra, nàng cũng kiêm
vài việc khác nữa. Trong giờ hành chính nàng là người đọc mo rát bán thời gian
cho một nhà xuất bản nhỏ; nàng cũng là một người mẫu hoa tai. Nói cách khác,
nàng bận rộn liên miên. Lẽ tự nhiên, nàng không thể không có tên. Trên thực tế,
tôi chắc nàng có tới cả đống tên. Đồng thời, nói trắng ra, nàng chẳng có cái
tên nào. Bất cứ thứ gì nàng mang theo - vốn cũng gần như chẳng có gì - đều
không ghi dấu một cái tên. Nàng không có thẻ tàu điện, không bằng lái, không cả
thẻ tín dụng. Nàng có mang theo một cuốn sổ tay, nhưng trong ấy lại nguệch
ngoạc đầy một thứ mật mã không tài nào đọc ra được. Dường như nàng không muốn
bị nhận dạng. Gái điếm chắc cũng phải có tên, nhưng họ sống trong một thế giới
không cần biết đến điều đó.
Tôi hầu như không biết gì về nàng. Quê
hương, tuổi thực, ngày sinh, học vấn và hoàn cảnh gia đình nàng - tất cả đều
không biết. Bất chợt như nắng mưa, nàng đột nhiên ùa tới từ đâu đó để rồi bốc
hơi đi mất, chỉ để lại những ký ức.
Nhưng giờ đây, ký ức về nàng đang ào ạt
trở lại trong một hiện thực xưa cũ giờ đây mới lại. Một hiện thực rõ ràng đến
chừng cầm nắm được. Nàng đang gọi tôi qua cái nơi được biết đến với tên khách
sạn Cá Heo ấy. Phải, nàng đang kiếm tìm tôi lần nữa. Và chỉ còn cách trở thành
một phần của khách sạn Cá Heo, tôi mới có thể gặp lại nàng. Phải, không còn
nghi ngờ gì nữa: chính nàng là người đã khóc vì tôi.
Mải miết ngắm màn mưa, tôi ngẫm nghĩ về ý
nghĩa của việc thuộc về và trở thành một phần của cái gì đó. Có ai đó khóc vì
tôi. Từ một nơi xa, rất xa. Từ một nơi mà, xét cho cùng, là một giấc mơ. Dù tôi
vươn xa bao nhiêu, dù tôi có chạy nhanh thế nào, tôi cũng không bao giờ đến
được nơi ấy.
Tại sao lại có người khóc vì tôi?
Rõ ràng là nàng đang gọi tôi. Từ một nơi
nào đó trong khách sạn Cá Heo. Và dường như ở đâu đấy trong chính tâm trí mình,
tôi cũng đang tìm kiếm khách sạn Cá Heo. Để được hòa mình vào khung cảnh ấy,
được trở thành một phần của cái chốn định mệnh kỳ quặc ấy.
Quay trở lại khách sạn Cá Heo không phải
là điều dễ dàng, vấn đề không đơn giản chỉ là gọi một cú điện thoại đặt phòng,
lên máy bay rồi bay tới Sapporo, và nhiệm vụ hoàn thành. Vì cái khách sạn này,
như tôi đã nói, cả về hoàn cảnh lẫn địa điểm, thực chất là một dạng thức tồn
tại trá danh khách sạn. Trở lại khách sạn Cá Heo nghĩa là đối mặt với cái bóng
của quá khứ. Chỉ riêng cái viễn cảnh ấy đã đáng chán làm sao. Suốt bốn năm qua,
tôi đã làm tất cả để thoát khỏi cái bóng u ám và lạnh lẽo ấy. Trở lại khách sạn
Cá Heo nghĩa là từ bỏ tất cả những gì tôi đã cố tình làm ngơ suốt bấy lâu nay.
Chẳng phải những điều tôi đã làm được là gì đó vĩ đại lắm. Dù nhìn theo chiều
hướng nào, nó cũng là một mớ các thứ tàm tạm có ích. Thế đấy, tôi đã cố hết sức
rồi. Qua vài sắp xếp khéo léo, tôi đã xoay xở để tạo ra một mối liên kết với
hiện thực, để xây dựng một cuộc đời mới dựa trên những giá trị tượng trưng ấy.
Vậy giờ đây là lúc tôi phải từ bỏ nó sao?
Nhưng toàn bộ sự việc đều bắt đầu từ nơi
ấy. Đó là điều không thể phủ nhận. Vì vậy câu chuyện buộc phải bắt đầu
lại từ nơi ấy.
Tôi nằm lăn ra giường, dán mắt lên trần
nhà, rồi thở dài. Ôi, từ bỏ đi thôi, tôi nghĩ. Nhưng ý nghĩ bỏ cuộc ấy
chẳng ăn thua gì. Nó nằm ngoài tầm với của ngươi, nhóc ạ. Ngươi có thể nghĩ
ra đủ mọi cách, nhưng cũng không cưỡng lại được đâu. Câu chuyện đã được quyết
định rồi.
Tôi được cử tới Hokkaido công tác. Như
thường lệ, đây chẳng phải là chuyện gì thú vị lắm, nhưng tôi không ở vào cái
thế được lựa chọn. Dù gì thì, những công việc đổ xuống đầu tôi nói chung chẳng
khác nhau là mấy. Dù tốt xấu thế nào, càng xa rời quãng giữa bao nhiêu, chất
lượng tương đối càng ít quan trọng bấy nhiêu. Giống như chiều dài bước sóng âm
thanh vậy: vượt qua một giới hạn nhất định nào đó là ta khó lòng phân biệt được
âm nào cao hơn trong hai âm cạnh nhau, đến cuối cùng chẳng những không thể phân
biệt được chúng nữa, mà ta còn chẳng nghe thấy gì nữa.
Nhiệm vụ lần này là viết một bài tên là
“Ăn ngon ở Hakodate” cho một tờ tạp chí phụ nữ. Tôi và một phóng viên ảnh định
ghé qua vài nhà hàng. Tôi sẽ viết bài còn anh ta cung cấp ảnh để hoàn thành một
bài viết năm trang. Thế đấy, thì cũng phải có ai đó viết những thứ như vậy chứ.
Cũng giống như nhặt rác hay xúc dọn tuyết thôi, đằng nào thì cũng phải có người
làm. Dù ta có thích hay không cũng chẳng phải vấn đề - công việc là công việc.
Tôi đã đóng góp cho xã hội theo kiểu này
được ba năm rưỡi. Xúc dọn tuyết. Ai cũng biết cả, những đống tuyết văn hóa.
Trước đó, vì vài sự cố bất đắc dĩ, tôi đã
phải đóng cửa văn phòng mà tôi và một người bạn đang điều hành, và trong nửa
năm sau đó, tôi hầu như không làm gì cả. Tôi không muốn làm bất cứ việc gì. Mùa
thu năm trước, đủ mọi chuyện đã xảy đến với tôi. Tôi ly hôn. Một người bạn qua
đời, vô cùng bí ẩn. Người tình bỏ rơi tôi, không nói một lời. Tôi gặp một gã kỳ
lạ rồi chợt nhận ra mình bị cuốn vào những diễn biến khác thường. Và khi mọi
chuyện chấm dứt, tôi bị vùi sâu trong một vùng tĩnh lặng sâu thẳm hơn bất cứ gì
tôi từng trải qua. Bầu không khí vắng lặng đến tức thở lơ lửng trong căn hộ của
tôi. Tôi tự nhốt mình suốt sáu tháng. Ban ngày, tôi không hề bước chân ra khỏi
nhà, trừ phi để mua sắm vài nhu yếu phẩm tối thiểu. Tôi chỉ vào thành phố cùng
với tia nắng đầu tiên của bình minh, lang thang trên những con đường vắng, rồi
khi phố xá bắt đầu có bóng người, tôi lại trốn về nhà ngủ.
Chạng vạng tối, tôi thức dậy, kiếm chút gì
bỏ vào bụng và cho mèo ăn. Đoạn tôi ngồi trên sàn nhà, cẩn thận điểm lại mọi
việc đã xảy đến với mình và cố gắng hiểu chúng. Sắp xếp lại trật tự các sự
kiện, liệt kê hết những khả năng có thể xảy ra, nghĩ lại xem những việc mình đã
làm là đúng hay sai. Cứ như vậy cho tới lúc bình minh, tôi lại ra khỏi nhà và
lang thang trên phố.
Đó là lịch trình thường ngày của tôi trong
vòng nửa năm. Từ tháng Một tới tháng Sáu năm 1979. Tôi không đọc lấy một cuốn
sách. Tôi không giở một tờ báo. Tôi không xem ti vi, không nghe đài. Không gặp
một ai, không chuyện trò với một người nào. Thậm chí tôi hầu như không uống
rượu; cũng chẳng có tâm trạng nhậu nhẹt. Tôi không hề biết thế giới bên ngoài
đang diễn ra những gì, ai trở nên nổi tiếng, ai chết đi, không gì hết. Không
phải là tôi ngoan cố không muốn tiếp nhận thông tin, chỉ là tôi không có ham
muốn biết bất cứ điều gì. Dù vậy, tôi hiểu rằng mọi việc vẫn đang tiếp diễn.
Thế giới vẫn không ngừng chuyển động. Tôi cảm nhận được điều ấy trên chính da
mình, ngay cả khi đang đơn độc một mình trong căn hộ. Dẫu thế nó cũng chẳng
khiến tôi thấy mảy may hứng thú. Nó giống như một cơn gió nhẹ im lìm lướt qua
tôi vậy.
Ngồi bệt dưới sàn nhà, tôi tua đi tua lại
quá khứ trong đầu mình. Thật buồn cười, đó là tất cả những gì tôi đã làm, ngày
này qua ngày khác trong suốt nửa năm, và tôi không hề thấy chán. Những điều tôi
đã trải chừng như sự thật lớn, với vô số mặt cắt. Dẫu vậy chúng rất chân thực,
đó là lý do mà những trải nghiệm cứ hiện ra sừng sững trước mặt tôi, như một
đài kỷ niệm tỏa sáng trong đêm. Và đúng là thế, đó là một đài kỷ niệm cho tôi.
Tôi xem xét kỹ càng từng sự kiện từ mọi góc độ. Tôi đã bị tổn hại, khá tồi tệ,
tôi nghĩ vậy. Không phải một sự tổn hại vặt vãnh. Máu đã chảy trong lặng lẽ.
Sau một thời gian, vài nỗi đau dần tan biến, vài nỗi đau khác lại hiện ra.
Nhưng dù sao, nửa năm tự giam mình trong nhà của tôi không phải là để hồi sức.
Cũng không phải vì chứng tự kỷ từ chối thế giới bên ngoài. Đơn giản là tôi cần
thời gian để có thể trở lại cuộc sống bình thường.
Khi trở lại với cuộc sống bình thường, tôi
cố gắng không nghĩ tới hướng đi của mình. Đó hoàn toàn là một vấn đề khác, để
dành cân nhắc vào một ngày khác. Giờ việc chính là phải lấy lại sự cân bằng cho
bản thân đã.
Tôi hầu như không nói chuyện với con mèo.
Chuông điện thoại reo. Tôi mặc cho nó kêu.
Nếu có người gõ cửa, tôi không ở nhà.
Thi thoảng có mấy bức thư. Vài bức là từ
đối tác trước đây của tôi, anh không biết tôi đang ở đâu hay đang làm gì và
thấy lo lắng. Anh ngỏ ý hỏi xem có thể giúp gì cho tôi? Công việc mới của anh
đang rất suôn sẻ, vài người quen cũ cũng có hỏi thăm tôi.
Vợ cũ cũng viết, bảo rằng có vài chuyện
cần phải quan tâm, những chuyện rất thực tế. Rồi cô ta kể mình sắp tái hôn -
với ai đó mà tôi không quen, và có lẽ là chẳng bao giờ quen. Điều này có nghĩa
là cô ta đã chia tay gã bạn của tôi, cái gã mà cô ta đã cặp kè hồi chúng tôi ly
dị. Chuyện họ bỏ nhau chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Gã ấy chẳng phải một tay guitar
nhạc jazz tài giỏi, và cũng chẳng phải loại người tuyệt vời gì cho lắm. Chẳng
thể hiểu nổi cô ta thấy gì ở gã nữa - nhưng không phải là việc của tôi, nhỉ?
Còn về phần tôi, cô ta nói không hề lo lắng. Cô ta chắc rằng tôi sẽ ổn dẫu có
chọn làm gì đi nữa. Thay vào đó, cô ta dành những lo lắng đó sang cho những
người sau này có quan hệ với tôi.
Tôi đọc những lá thư vài lần rồi cất đi.
Và cứ thế, vài tháng đã trôi qua.
Tiền không phải là vấn đề. Tôi đã để dành
đủ để sống, và tôi cũng chẳng bận tâm điều gì sẽ xảy ra sau đó. Mùa đông đã
trôi qua.
Và mùa xuân lại đến. Hương gió đổi thay.
Ngay cả màn đêm cũng trở nên khác hẳn.
Cuối tháng Năm, Kipper, con mèo của tôi
chết. Bất thình lình, không hề báo trước. Một buổi sáng, tôi thức dậy thì thấy
nó cuộn tròn trên sàn bếp, đã chết tự khi nào. Chắc hẳn bản thân nó cũng không
biết điều xảy đến với mình. Cơ thể nó lạnh ngắt cứng đờ, giống như món gà quay
từ hôm qua, bộ lông không còn óng mượt. Khó có thể nói rằng nó đã sống hạnh
phúc. Nó chưa bao giờ thực sự được ai yêu thương, cũng dường như chưa hề thực
sự yêu thương ai. Trong mắt nó luôn có vẻ bứt rứt không yên, như thể muốn nói, Giờ
thì sao? Thường thì một con mèo không có ánh mắt như thế. Nhưng dù sao đi
nữa, nó đã chết rồi. Không có gì hơn. Có lẽ đó là điều dễ chịu nhất ở cái chết.
Tôi bọc xác nó vào một cái túi của siêu
thị Seiyu, đặt lên ghế sau xe ô tô, rồi lái tới cửa hàng vật dụng gia đình và
mua một cái xẻng. Tôi rời đường cao tốc rẽ vào một đoạn khá dài, đi lên đồi và
tìm một lùm cây thích hợp. Cách con đường một đoạn vừa phải, tôi đào một cái hố
sâu chừng một mét, rồi tôi đặt Kipper trong chiếc túi yên nghỉ ở đấy. Sau đó
tôi xúc đất đổ lên người nó. Xin lỗi mày, tôi nói với nó, mọi việc phải như
thế. Lũ chim hót không ngừng khi tôi chôn Kipper. Nghe như tiếng sáo rít ở âm
vực cao nhất.
Sau khi lấp đầy cái hố, tôi ném xẻng vào
cốp xe, rồi quay lại đường cao tốc. Tôi vừa nghe radio vừa lái xe về Tokyo.
Đúng lúc ấy phát thanh viên bật một bài
trong đó Ray Charles đang than vãn về chuyện sinh ra để mất mát… và giờ đây
anh mất em.
Tôi những muốn khóc. Đôi khi một việc nhỏ
có thể gợi ra nhiều cảm xúc. Tôi tắt radio và rẽ vào một khu dịch vụ. Trước
tiên, tôi rửa sạch đất ở tay, rồi vào nhà hàng. Tôi chỉ cố nuốt được một phần
ba chiếc sandwich, nhưng lại uống hết hai ly cà phê.
Bây giờ Kipper đang làm gì nhỉ? Tôi tự
hỏi. Trong bóng tối dưới đó. Tiếng đất phủ lên chiếc túi siêu thị Seiyu cứ lạo
xạo trong tâm trí tôi. Mọi việc phải diễn ra như thế, anh bạn ạ, tao rồi cũng
sẽ như mày thôi.
Tôi ngồi nhìn chăm chăm vào miếng sandwich
ăn dở suốt cả giờ đồng hồ. Cho đến khi một cô hầu bàn mặc đồng phục tím bước
lại lo lắng hỏi xem liệu cô đã dọn bàn được chưa.
Mọi việc phải thế, tôi nghĩ. Cho nên bây
giờ, trở lại với xã hội đi thôi.
[...]