Là kết quả mối tình giữa một
thiếu nữ Việt và một quân nhân người Pháp, lại bị cha đẻ bỏ rơi từ khi còn nằm
trong bụng mẹ, cuộc đời của cô bé Kim trở thành một chuỗi những ngày tháng phiêu
bạt không dứt từ vòng tay mẹ đến trại trẻ mồ côi đến trường nội trú, từ Bắc chí
Nam... Trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn nằm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thân
phận vừa là con lai vừa là con hoang đã đặt trước Kim biết bao trở ngại, nhưng
vẫn không thể khuất phục được ý chí cô vẫn nung nấu quyết tâm thay đổi vận mệnh
mình, bằng con đường học vấn...
Với lối viết dung dị mà lôi
cuốn, cộng thêm sức thuyết phục từ nhiều tình tiết chân thực và cảm động, Cô gái lai da trắng đã nhận được sự đồng
cảm của độc giả qua nhiều thế hệ.
*** Đôi nét về tác giả
Kim Lefèvre chào đời ít lâu
trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, cha người Pháp, mẹ người Việt Nam. Sống
trọn thời thơ ấu tại Việt Nam, năm 1961 bà sang Pháp làm luận văn tiến sĩ và bắt
đầu giảng dạy văn chương tại nhiều trường trung học tại Paris. Cuốn tự truyện Cô gái lai da trắng là tác phẩm đầu tay
của bà, ra mắt năm 1982 với lượng tiêu thụ khá ấn tượng tại Pháp. Ngoài viết văn,
Kim Lefèvre còn dịch một số tác phẩm của các tác giả Việt Nam, đặc biệt là Nguyễn Huy Thiệp. Bà
cũng thể hiện tài năng diễn xuất trong lĩnh vực sân khấu.
*** Đọc trước tác phẩm Phiêu bạt
Tôi
được sinh ra, hình như ở Hà Nội, vào một ngày mùa xuân, ít lâu trước
cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, kết quả của cuộc hôn phối chốc
lát giữa một cô gái An Nam và một người Pháp. Về
chuyện này, tôi chẳng có bằng chứng gì xác thực, mà cũng chẳng ai
làm giấy khai sinh cho mãi đến năm tôi mười lăm tuổi. Mà tôi cũng
chẳng tìm hiểu làm gì. Điều đó có gì là quan trong đối với tôi hay
đối với ai khác. Chúng tôi sống trogn một xã hội mà khái niệm thời
gian định lượng không hề tồn tại. Cả đời người đàn bà chỉ cần chia
làm mấy giai đoạn lớn: thời thơ ấu, rồi lúc thấy kinh – dấu hiệu có
thể sinh con, và nghĩa là sắp lấy chồng được, rồi làm mẹ, mà nếu
may mắn sinh được một đứa con trai thì sẽ làm mẹ chồng để có cái
quyền áp chế một nàng dâu e lệ bước vào nhà mình… Cho nên có sớm
hay muộn bốn hay năm năm cũng chẳng có nghĩa lý gì. Tôi
không biết cái ông sinh ra tôi trông giống ai. Mẹ tôi chẳng bao giờ nhắc
đến ông ta. Trong những ngày buồn chán, tôi thích tưởng tượng, hình
dung ông ta như một tay lính lê dương, không phải “chàng lê dương đẹp trai
của em” như lời bài hát ở xứ Pháp này đâu, mà là một tay thực dân
ngổ ngáo, đáng ghét, một kẻ thuộc phe kia. Tôi nung nấu mối hận thù
mãnh liệt với người cha không hề biết mặt ấy, dường như chỉ những
đứa con bị tổn thương đến cùng cực mới có thể hận thù được đến như
vậy. Tôi đã
mang nhiều họ nối tiếp nhau, chúng giống như những cái bản lề trong
cuộc đời tôi. Đầu tiên là họ Trần của mẹ, khi bà một mình vò võ
nuôi con. Nhưng rồi , hoàng hốt vì ngày càng chứng kiến thêm nhiều
hậu quả do sự tồn tại của tôi đè nặng lên cuộc đời bà, bà liền
giao tôi vào tay một bà vú trước khi trốn lủi vào tận Sài Gòn, mảnh
đất lạ lẫm với bà nhưng lại chất chứa nhiều hy vọng cho bà xây dựng
lại tương lai. Tiếp đến là cái họ Tiffon của người đàn ông sinh ra
tôi, vào giai đoạn mà tất cả họ hàng nhất trí đòi mẹ tôi đưa tôi
vào trại mồ côi để “quẳng lại cho dòng giống nhà nó”. Bởi vì, nói
đúng ra, tôi đã trở thành một con quái vật giữa cái xã hội hết sức
dân tộc chủ nghĩa. Ông cậu tôi tham gia Việt Minh từ năm 1941 và hội
họp thường xuyên trong các khu rừng thuộc Tuyên Quang. Tất cả mọi cái
trên người tôi đều tương phản với những người trong gia đình: từ hình
hài đứa con lai đến tính khí thất thường khó hiểu, tóm lại là trong
người tôi rất ít chất Việt Nam. Người ta chụp lên đầu tôi đủ thứ xấu
xa chỉ vì dòng máu Pháp chảy trong huyết quản tôi. Điều đó ngăn cản
mọi sự ấu yếm dịu dàng dành cho tôi. Tôi thông cảm với họ. Tôi đồng
tình với họ. Tôi cũng thế, cũng ghét cay ghét đắng cái thứ máu ấy
trong người mình. Khi còn là một đứa con gái nhỏ, tôi đã khấn Trời
khấn Phật xui khiến tôi gặp phải tai nạn gì đó cho cái thứ máu ấy,
thứ máu đáng nguyền rủa ấy, chảy hết khỏi người tôi, để tôi được
là đứa con gái Việt Nam thuần chung, hòa hợp với những người xung
quanh và ngay với chính bản thân mình. Vì tôi yêu đất nước này, yêu
những cánh đồng lúa, những lũy tre xanh, những cái ao làng nơi tôi
vẫn thường vùng vẫy với đám trẻ cùng trang lứa. Tôi
không còn lưu giữ chút ký ức nào về những năm đầu của cuộc đời, ngoại trừ cái
cảm giác rất sớm nhận ra rằng ở bất cứ chỗ nào mình cũng lạc lõng, xa lạ. Tôi
rất đau lòng vì chuyện đó, không phải chỉ như chịu đựng một sự bất công, mà còn
như phải mang trong mình một nét tật nguyền. Tuổi ấu
thơ của tôi chỉ còn là bóng đêm trong ký ức. Đêm di cư. Tôi vẫn còn giữ từng
mảnh ký ức về những cuộc dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác, hệt như gói bưu
kiện không người nhận. Bà vú già - từ lâu không được ai trả công, và cũng không
còn nuôi nổi tôi nữa - cõng tôi trên lưng để đi tìm một bà dì, ông cậu, hay bất
cứ một người nào có dây mơ rễ má với tôi để trút sang họ cái gánh nặng này. Vào một
đêm thu ở Hà Nội. Tôi nhớ tiết trời dịu mát vì trận mưa phùn - cái thứ mưa nhẹ
hạt ở Bắc Kỳ - nhớ cảm giác dìu dịu trên tấm lưng trần của bà vú, da thịt vừa
nhão vừa đàn hồi. Tôi bám vào thịt da bà như bám vào tấm võng ấm áp và mịn
mượt, tôi nhấm nháp tận hưởng niềm thích thú trên con đường bất tận ấy. Phải
chi cuộc hành trình vô định ấy kéo dài suốt cả đời tôi, và tôi cứ được bám lấy
tấm lưng trần ấm áp của bà vú, còn da thịt mình thì phó mặc cho những hạt mưa
phùn với lòng biết ơn, như vậy thì thích biết mấy. Trong
ký ức xa xôi, tôi thấy Hồ Gươm hiện ra như một bức tranh Tàu mờ ảo trong sương.
Vào năm nào? Tôi không thể nói chính xác. Bấy giờ các thiếu nữ đi dạo quanh bờ
hồ, những mái tóc thề đen nhánh buông đến eo, và những tà áo mỏng phất phơ
trước gió. Mấy đứa nhỏ chơi đùa trên bãi cỏ. Mấy bà hàng cốm bọc trong phiến lá
sen những hạt cốm xanh rờn, mọng sữa, đượm hương lúa mới. Tôi thấy
lại ngôi trường mẫu giáo, sáng sáng bầy trẻ nhỏ xếp hàng ngay ngắn
trước ngọn cờ tam tài của Pháp, hét đến váng óc bài Maréchal, nous
voilà... Người ta dạy lũ trẻ con chúng tôi sự ưu việt của
trí tuệ so với bạo lực. Tôi còn nhớ bài hát kể chuyện Chú bé Tí
Hon đã chiến thắng con quỷ ăn thịt người chỉ bằng mấy câu thế này: Hỡi con quỷ kia, hãy tránh lối
ta đi! Bởi ra chẳng sợ gì mi Mi chẳng làm gì được ta Ta còn được học ở trường Chứ mi thì mãi là tên dốt
đặc.
[...]
|