Cảm thấy muốn giao thiệp xã hội
ư? Cảm giác ấy đã được đăng ký bản quyền!
Muốn chửi thề bằng nhiều thứ
tiếng ư? Hãy đến học cùng đười ươi biết nói ở Bukut Alam!
Brad Pitt hay Pamela Anderson sẽ
bán mỡ của mình chứ? Tại sao lại không?
Xin đón chào bạn đến với Thế giới nghịch – thế giới gien. Nhanh, mãnh liệt và vượt tầm kiểm
soát. Đây không phải thế giới của tương lai – đây là thế giới ở ngay hiện tại. Thế giới nghịch – khi các Đấng Toàn Năng không còn giữ vai trò độc
quyền trong sáng tạo thế giới, khi chỉ một chuỗi gien cũng có thể làm đảo lộn
lịch sử, khi ngay cả người đã chết cũng bị đưa lên bàn đấu giá, khi tất cả mọi
điều đều trở thành có thể…
Hồi hộp, bất ngờ và dễ
hiểu ngay cả trong những vấn đề tưởng như đậm tính chuyên môn, với Thế giới nghịch, Micheal Cricton mang đến cho độc giả một tác phẩm không-thể-bỏ-qua của
thể loại, một thành công nối tiếp những đột phá vang dội của ông trong Công viên kỷ Jura.
*** Đôi nét về tác giả John Michael Crichton

John Michael Crichton (23/10/1942 - 04/11/2008)
là nhà văn, nhà sản xuất, đạo diễn phim và bác sĩ y khoa người Mỹ, nổi
tiếng về các tiểu thuyết, phim, và chương trình truyền hình thuộc thể loại
khoa học viễn tưởng và techo-thriller. Ông từng dạy học ở Cambridge (Anh)
và lưu lạc ở châu Âu, Bắc Phi, trước khi trở về Mỹ. Không chỉ được xem là cha
đẻ của loại tiểu thuyết công nghệ gây hồi hộp với tác phẩm được dịch ra khoảng
30 thứ tiếng và tiêu thụ hơn 100 triệu bản, Michael Crichton còn là tác giả của
chương trình truyền hình Urgencys thành công khắp thế giới. Tác phẩm Công viên kỷ Jura của ông là một trong những
cuốn sách bán chạy nhất thế giới và được đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg
chuyển thể thành bộ phim ăn khách cùng tên. Ngoài sự nghiệp văn chương và điện
ảnh, Michael Crichton còn là thành viên của hội đồng quản trị tổ chức The
Gorilla Foundation, một tổ chức bảo vệ loài khỉ dạng người gorilla.
*** Lời khen tặng dành cho Thế giới nghịch
“Hãy đọc cuốn sách này. Đủ độ sợ hãi đến mức DNA rơi ra khỏi cơ thể bạn.” - Baton Rouge Advocate
“Rợn người.”
- The Washington
Post
“Ngoạn mục.”
- Philadelphia Inquirer
“Ly kỳ cũng như bất kỳ tác phẩm
nào của ông kể từ Công viên kỷ Jura.”
- Dallas
Morning News
*** Trích Thế giới nghịch
PHẦN MỞ ĐẦU
Vasco Borden,
bốn mươi chín tuổi, vừa bước dọc theo hành lang trải thảm sang trọng vừa giật
giật hai bên ve áo bộ com lê và sửa thẳng cà vạt. Gã không quen mặc com lê, mặc
dù khi còn phục vụ trong hải quân gã cũng từng có một bộ, được may theo cách
đặc biệt để giảm tối đa sự lộ rõ khối cơ bắp trên thân hình. Borden người vạm
vỡ, cao 1m93, nặng 109 kg, một cựu cầu thủ bóng bầu dục làm nghề thám tử tư và
là chuyên gia truy bắt những kẻ đào tẩu. Và ngay bây giờ, Vasco đang theo dõi
mục tiêu của mình, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ba mươi tuổi, đầu bắt đầu
hói, đào tẩu từ công ty MicroProteonomics ở Cambridge, bang Massachusett, khi
tên này đang hướng thẳng về phía đại sảnh hội nghị.
Hội nghị BioChange
2006, với chủ đề đầy hứng khởi “Biến ước mơ thành sự thật ngay!”, diễn ra tại
khách sạn Venetian ở Las Vegas. Hai ngàn khách tham dự đại diện đủ các thành
phần đang làm việc trong ngành công nghệ sinh học, các nhà đầu tư, nhân viên
quản lý nhân sự chuyên thuê các nhà khoa học, nhân viên chuyển giao công nghệ,
CEO, và chuyên gia luật sở hữu trí tuệ. Bằng nhiều cách khác nhau, gần như mỗi
công ty công nghệ sinh học ở Mỹ đều có đại diện tại đây.
Đây là nơi hoàn
hảo để một kẻ đào tẩu gặp gỡ đầu mối liên lạc. Kẻ đào tẩu trông có vẻ khờ khạo;
hắn có bộ mặt ngây thơ và một chỏm râu nhỏ trên cằm; hắn buông thõng vai khi
bước, gây ấn tượng về sự rụt rè và thiếu năng lực. Nhưng sự thật thì, hắn đã
bốc hơi cùng với mười hai cái phôi chuyển gien đựng trong bình chân không cryo
và đã vận chuyển chúng xuyên khắp nước Mỹ trước khi đến được hội nghị này, nơi
hắn sẽ giao những cái phôi này lại cho kẻ đang thuê hắn.
Đây không phải
trường hợp đầu tiên về một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ chán cảnh làm công ăn
lương. Mà cũng sẽ không phải trường hợp cuối.
Kẻ đào tẩu đi
thẳng tới bàn đăng ký để lấy thẻ tham dự hội nghị và đeo quanh cổ. Vasco nấn ná
ở lối vào và tròng tấm thẻ của mình qua đầu. Gã đã dự trù trước tình huống này.
Gã giả vờ quan sát tấm bảng giới thiệu chương trình.
Những bài diễn văn
quan trọng đều diễn ra ở phòng khiêu vũ chính. Các buổi hội thảo được bố trí
lịch với những chủ đề như “Tinh chỉnh quá trình tuyển dụng”, “Những chiến lược
tất thắng để giữ lại nghiên cứu viên tài năng”, “Thù lao cho ban điều hành và
cổ đông”, “Vận hành công ty và Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch”, “Các xu hướng
ở Cục Sáng chế”, “Nhà đầu tư cá nhân: phúc hay họa?” và cuối cùng là “Đánh cắp
bí mật kinh doanh: tự bảo vệ mình ngay bây giờ!”
Phần lớn công việc
của Vasco liên quan tới các công ty công nghệ cao. Trước đây gã đã từng có mặt
ở những hội nghị như thế này. Nếu không phải hội nghị khoa học thì cũng là về
kinh doanh. Hội nghị lần này là về kinh doanh.
Kẻ đào tẩu, Eddie
Tolman, đi qua trước mặt gã vào phòng khiêu vũ. Vasco bám ngay theo sau. Tolman
đi qua mấy hàng ghế phía trên và thả mình xuống một chiếc ghế trống xung quanh
không có người nào khác. Vasco lẻn vào hàng ghế ngay phía sau và ngồi hơi lệch
sang một bên. Tên nhóc Tolman kiểm tra di động xem có tin nhắn không, rồi tỏ vẻ
thư giãn và ngước lên nghe bài phát biểu.
Vasco thắc mắc tại
sao.
Người đàn ông đang đứng trên
bục là một trong những trùm tư bản mạo hiểm có tiếng nhất ở California, một nhà đầu tư huyền thoại trong
lĩnh vực công nghệ cao, Jack B. Watson. Gương mặt Watson được phóng lớn trên
màn chiếu phía sau lão, làn da rám nắng đã trở thành thương hiệu và nét điển
trai nổi bật được khuếch đại đến mức lấp đầy căn phòng. Watson đã năm mươi hai
tuổi nhưng trông vẫn trẻ trung, lão đã cần mẫn vun trồng tiếng tăm của mình trong
vai trò một nhà tư bản hảo tâm. Danh hiệu đó đã giúp lão đạt được nhiều thỏa
thuận kinh doanh không khoan nhượng: thứ duy nhất được phơi bày trên các phương
tiện truyền thông là hình ảnh lão tại các ngôi trường hiến chương hay trong
những dịp trao học bổng cho mấy đứa nhỏ thiếu thốn.
Nhưng trong căn
phòng này, Vasco biết, các thỏa thuận rắn đòn làm nên tiếng tăm của Watson mới
chính là thứ quan trọng nhất trong tâm trí thính giả. Gã tự hỏi liệu Watson có
đủ nhẫn tâm để thu mua bất hợp pháp một tá phôi chuyển gien hay không. Lão có
thể lắm chứ.
Tuy nhiên, ngay
lúc này, Watson đang nói hăng say như một hoạt náo viên: “Công nghệ sinh học
đang bùng nổ. Chúng ta chắc chắn sẽ được chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ nhất
chưa từng xảy ra trong bất kỳ ngành công nghiệp nào kể từ thời kỳ điện toán
cách đây ba mươi năm. Công ty công nghệ sinh học lớn nhất ở Los Angeles, Amgen, có bảy ngàn nhân viên.
Tiền trợ cấp liên bang dành cho các trường đại học là hơn bốn tỷ mỗi năm và
được phân bổ khắp các trường từ New York đến San Francisco, từ Boston
tới Miami.
Khoảng năm tỷ mỗi năm được các nhà tư bản mạo hiểm đầu tư vào các công ty công
nghệ sinh học. Sức cám dỗ của những phương cách chữa bệnh tuyệt diệu được mang
lại nhờ ngành khoa học nghiên cứu tế bào gốc, cytokine và protein đang thu hút
nhiều tài năng sáng giá. Khi dân số toàn cầu đang từng phút già đi, tương lai
của chúng ta lại trở nên rực rỡ hơn bao giờ hết. Và đó chưa phải là tất cả!”
“Chúng tôi đã đạt
đến tầm mức có thể làm cho nhóm Big Pharma phải sống dở chết
dở - và chúng tôi sẽ làm vậy. Mấy công ty đồ sộ béo húp híp đó cần chúng tôi và
họ biết điều đó. Họ cần gien, họ cần công nghệ. Họ là quá khứ. Chúng tôi là
tương lai. Chúng tôi là nơi sản sinh ra tiền của!”
Đoạn phát biểu đó
thu hút một tràng pháo tay giòn giã. Vasco rục rịch thân mình trong ghế. Khán
giả đang vỗ tay, dù rằng họ biết rõ tên chó đẻ này sẽ cắt nhỏ công ty của họ ra
thành nhiều mảnh chỉ trong một giây nếu việc đó mang lại lợi nhuận cho lão.
“Dĩ nhiên, chúng
tôi đang phải đối mặt với nhiều chướng ngại vật trên con đường phát triển. Một
số người - dù họ nghĩ họ có thiện ý đến thế nào đi chăng nữa - chọn cách
cản đường tiến bộ của nhân loại. Họ không muốn những bệnh nhân bại liệt có thể
đi lại, những bệnh nhân ung thư được sống khỏe mạnh, những đứa trẻ ốm đau tiếp
tục sống và chơi đùa. Họ có lý do riêng để phản đối. Vì tôn giáo, luân lý, hay
thậm chí ‘tính thiết thực’. Cho dù lý do có là gì thì họ vẫn đứng về phía thần
chết. Và những kẻ đó sẽ không chiến thắng!”
Tiếng vỗ tay vang
lên rầm rã hơn. Vasco liếc nhìn kẻ đào tẩu, Tolman. Tên nhóc lại đang kiểm tra
điện thoại. Rõ ràng hắn đang chờ tin nhắn. Và chờ một cách sốt ruột.
Liệu điều đó có
đồng nghĩa với việc đầu mối liên lạc của hắn đến trễ?
Chuyện đó nhất
định khiến Tolman phấp phỏng. Bởi vì ở đâu đó, Vasco biết, tên nhóc này đang
giấu một bình cách nhiệt bằng thép không gỉ, bên trong chứa đầy ni tơ lỏng bao
bọc quanh những cái phôi. Cái bình không nằm trong phòng của tên nhóc. Vasco đã
lục soát nơi đó rồi. Và năm ngày đã trôi qua kể từ khi Tolman rời khỏi
Cambridge. Chất giữ lạnh không thể duy trì tác dụng vĩnh viễn. Và khi mấy cái
phôi ấy tan ra, chúng sẽ không còn giá trị. Vì thế nếu Tolman không có cách nào
làm đầy bình bằng LN2 thì giờ đây chắc hẳn hắn đang rất nôn nóng muốn lấy lại cái
bình để giao cho khách hàng.
Chuyện này nhất
định sẽ sớm xảy ra.
Chỉ trong một
tiếng đồng hồ thôi, Vasco chắc chắn như vậy.
“Dĩ nhiên, họ sẽ tìm cách
ngăn cản sự tiến bộ,” Watson nói từ bục phát biểu. “Ngay cả những công ty tốt
nhất của chúng tôi cũng đang gặp rối ren trong các vòng kiện tụng vô nghĩa lý,
không mang lại kết quả. Một trong những công ty mới mở của tôi, BioGen ở Los
Angeles, hiện đang phải hầu tòa bởi vì một gã Burnet nào đó cứ tưởng gã không
cần phải tôn trọng những hợp đồng do chính tay gã đặt bút ký. Vì giờ đây gã đã
đổi ý. Burnet sẽ cố sức ngăn chặn những tiến bộ y học trừ phi chúng tôi trả cho
gã một khoản. Một tên tống tiền mà con gái gã lại chính là luật sư sẽ giải
quyết vụ kiện. Cha nào con nấy.” Watson mỉm cười.
“Nhưng chúng tôi sẽ
thắng vụ Burnet. Bởi không ai có thể ngăn cản sự tiến bộ!”
Nói rồi, Watson
đưa hai tay lên không trung, vẫy vẫy về phía khán giả giữa tiếng vỗ tay tràn
ngập căn phòng. Lão hành xử như một ứng cử viên thực thụ, Vasco nghĩ. Đó là
điều Watson đang nhắm đến sao? Lão này nhất định có đủ tiền để được bầu. Thời
buổi này giàu có là điều thiết yếu trong chính trường Mỹ. Chẳng bao lâu...
Gã nhìn lại và
thấy tên nhóc Tolman đã biến mất.
Chiếc ghế trống
rỗng.
Cứt thật!
“Mang lại sự tiến
bộ là sứ mạng, là sự thôi thúc thiêng liêng của chúng ta,” Watson lớn tiếng.
“Tiến bộ để chế ngự bệnh tật! Tiến bộ để ngăn chặn lão hóa, xua đuổi chứng suy
giảm về trí tuệ, kéo dài cuộc sống! Một cuộc sống không bệnh tật, không suy
nhược, không đau đớn, và không sợ hãi! Giấc mơ vĩ đại của nhân loại - cuối cùng
cũng sẽ trở thành sự thật!”
Vasco Borden không
còn nghe lão nói. Gã vội vàng đi dọc hàng ghế hướng về phía lối đi bên cạnh,
vừa đi vừa đưa mắt lướt nhanh qua các lối ra. Một vài người đi ra, nhưng không
ai trông giống Tolman. Tên này không thể nào trốn thoát được, thoáng có...
Gã quay lại nhìn,
vừa kịp lúc thấy Tolman đang di chuyển chậm rãi lên gần lối đi trung tâm. Tên
nhóc lại đang xem di động.
“Năm nay là sáu
mươi tỷ. Năm tới là hai trăm tỷ. Năm năm nữa sẽ là năm trăm tỷ! Đó là tương lai
ngành công nghiệp của chúng ta, và đó là viễn cảnh tốt đẹp mà chúng ta mang đến
cho toàn nhân loại!”
Đám đông đứng bật
dậy, vỗ tay tán thưởng Watson, và đột nhiên Vasco không còn thấy Tolman đâu
nữa.
Nhưng thời khắc đó
chỉ thoáng qua - giờ thì Tolman đang đi về phía lối ra chính giữa. Vasco quay
lưng, lẻn qua cửa phụ đi ra hành lang, bắt gặp Tolman đang đi vào khu vực hành
lang chói sáng ánh đèn.
Tolman liếc nhìn
đồng hồ đeo tay rồi bước nhanh về phía hành lang bên kia, đi qua những ô cửa sổ
lớn bằng kính nhìn ra tháp đồng hồ San Marco lát gạch đỏ vốn đã được khách sạn
Venetian tu sửa lại và giờ đây luôn rực rỡ ánh đèn về đêm. Hắn đang tiến về
phía hồ bơi, mà cũng có thể là sân khách sạn. Vào thời điểm đêm tối như thế này
những chỗ đó sẽ rất đông người.
Vasco vẫn theo
sát.
Nó đây rồi, gã
nghĩ.
Trong phòng khiêu
vũ, Jack
Watson vừa đi đi lại lại vừa mỉm cười vẫy tay về phía đám đông đang tung hô.
“Cảm ơn, thật tử tế quá, cảm ơn...” Mỗi lần nói lão lại hơi cúi đầu xuống một
chút. Vừa đúng lượng khiêm tốn cần thể hiện.
Rick Diehl khịt
mũi tỏ vẻ ghê tởm khi theo dõi bài phát biểu. Diehl đang đứng sau sân khấu,
chăm chú theo dõi toàn bộ diễn biến qua một màn hình trắng đen nhỏ xíu. Diehl
là giám đốc điều hành ba mươi tư tuổi của BioGen Research, một công ty mới được
thành lập ở Los Angeles đang gặp khó khăn, và buổi diễn thuyết của nhà đầu tư
bên ngoài quan trọng nhất khiến hắn cảm thấy vô cùng bực bội. Bởi Diehl biết
đằng sau bài diễn văn sôi nổi vừa rồi và những buổi họp báo có sự tham gia của
mấy đứa nhóc da đen luôn cười tủm tỉm, thì gút lại Jack Watson vẫn đích thực là
một tên cặn bã. Như ai đó đã từng nói, “Điều tích cực nhất tôi có thể nói về
Watson đó là lão không phải kẻ thích những thứ tàn ác. Lão chỉ là một tên chó
thượng hạng.”
Diehl đã phải miễn
cưỡng chấp nhận nguồn tài chính từ Watson. Hắn ước chi mình không cần chỗ tiền
đó. Vợ Diehl giàu có, và hắn đã mở công ty BioGen bằng tiền của vợ. Vụ làm ăn
đầu tiên trên cương vị giám đốc điều hành của hắn là chào thầu để giành một hệ
tế bào do UCLA (Trường Đại học California)_ cấp phép. Đó là hệ tế bào Burnet,
phát triển từ cơ thể một người đàn ông tên Frank Burnet, vốn có khả năng sản
xuất ra những tố chất kháng ung thư mạnh mẽ có tên cytokine.
Diehl không thực
sự hy vọng sẽ nhận được giấy phép nhưng cuối cùng hắn lại có được nó, và bất
thình lình hắn rơi vào tình thế phải sẵn sàng cho công đoạn tiếp theo nếu được
Cục Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) cho phép tiến hành thử nghiệm lâm sàng. Chi
phí khởi điểm cho mỗi lần thử nghiệm lâm sàng là một triệu đô la, và tăng nhanh
đến con số mười triệu, chưa tính chi phí xuôi dòng và những phí tổn sau tiếp
thị. Hắn không thể chỉ mãi trông chờ vào tiền bạc của vợ. Hắn cần nguồn tài
chính bên ngoài.
Cũng chính vào lúc
ấy hắn mới phát hiện ra rằng các trùm tư bản mạo hiểm luôn xem cytokine là thứ
hàng hóa đầu tư đầy rủi ro. Nhiều loại cytokine, ví dụ như interleukin, phải
mất hàng năm mới xuất hiện trên thị trường. Nhiều loại cytokine khác gây nguy
hiểm cho bệnh nhân, thậm chí còn dẫn tới tử vong. Và rồi Frank Burnet đã đâm
đơn kiện vì nghi ngờ BioGen sở hữu hệ tế bào này. Diehl gặp khó khăn ngay cả
trong việc tiếp cận các nhà đầu tư. Rốt cuộc, hắn đành phải chấp nhận gã Jack
Watson da rám nắng và luôn tươi cười.
Nhưng lão Watson,
Diehl biết, chẳng muốn gì hơn ngoài chuyện tiếp quản BioGen rồi đá đít Rick
Diehl ra khỏi công ty.
“Jack! Phát biểu
hay tuyệt! Tuyệt lắm!” Rick đưa tay ra khi Watson đi vào sau cánh gà.
“Ừ. Mừng là anh
thích nó.” Watson không bắt tay Diehl. Thay vào đó, lão gỡ máy truyền tín hiệu
không dây ra rồi thả nó vào lòng bàn tay của Diehl. “Giữ cẩn thận cái này nhé,
Rick.”
“Nhất định rồi
Jack.”
“Vợ anh ở đây
không?”
“Không, Karen
không đến được.” Diehl nhún vai. “Kẹt mấy đứa nhỏ.”
“Tôi lấy làm tiếc
cô ấy đã bỏ lỡ bài phát biểu này,” Watson nói.
“Tôi sẽ bảo cô ấy
mua DVD xem,” Diehl nói.
“Dù sao chúng ta
cũng đã tung cái tin xấu ấy ra rồi,” Watson nói. “Đó mới là vấn đề chính. Bây
giờ ai cũng biết có một vụ kiện, người ta biết Burnet là một tên xấu xa, và họ
biết chúng ta đang kiểm soát vụ này. Đó là điều quan trọng. Công ty giờ đang ở
vị thế vô cùng vững chãi.”
Diehl nói, “Đó
có phải lý do khiến ông đồng ý đứng ra diễn thuyết không?”
Watson nhìn hắn
chòng chọc. “Anh nghĩ tôi muốn tới Vegas à? Lạy Chúa.” Ông ta gỡ chiếc
micro ra đưa cho Diehl. “Giữ cẩn thận cái này nữa.”
“Nhất định rồi
Jack.”
Rồi Jack Watson
quay người bỏ đi mà không nói thêm lời nào. Rick Diehl run rẩy. Cảm ơn Chúa đã
ban cho con số tiền của Karen, hắn nghĩ. Bởi nếu không có chúng, hắn chắc chắn
sẽ chẳng là gì.
Ngang qua những mái vòm khách
sạn Doge’s Palace_, Vasco Borden đi vào trong sân, theo sau kẻ đào tẩu, Eddie
Tolman, xuyên qua đám đông tụ tập về đêm. Gã thấy có tiếng loẹt xoẹt từ máy
nghe gắn trong tai. Đó là trợ lý của gã, Dolly, đang ở khu vực khác của khách
sạn. Gã chạm nhẹ vào tai. “Nói đi,” gã nói.
“Nhóc Đầu Hói
Tolman đã đặt trước một vài trò tiêu khiển.”
“Thật vậy à?”
“Đúng vậy, hắn...”
“Khoan đã,” Vasco
nói. “Cứ giữ máy.”
Trước mặt mình, gã
thấy một thứ không thể tin được. Từ bên phải sân, gã thấy Jack B. Watson nhập
vào đám đông, đi bên cạnh là một cô nàng xinh đẹp, dáng điệu uyển chuyển, tóc
sẫm màu. Watson nổi tiếng là người luôn được các cô nàng kiều diễm hộ tống. Họ
đều làm việc cho lão, tất cả đều khôn ngoan, và tuyệt đẹp.
Vasco không ngạc
nhiên về người phụ nữ. Điều làm gã ngạc nhiên là Jack Watson đang tiến về phía
Eddie Tolman, kẻ đào tẩu. Thật vô lý hết sức. Cho dù Tolman có đang làm ăn với
Watson đi nữa thì nhà đầu tư nổi tiếng này cũng sẽ không bao giờ gặp hắn mặt
đối mặt. Và gặp ở nơi công cộng thì lại càng không bao giờ. Nhưng bọn họ đang ở
kia, chuẩn bị đối đầu trong cái sân Venetian đông nghịt người, ngay trước mắt
gã.
Cái quái gì đây?
Gã không thể tin chuyện sắp xảy ra.
Nhưng sau đó cô
nàng uyển chuyển hơi vấp chân, và dừng lại. Cô ả mặc một bộ đầm ngắn bó sát
người và đi giày cao gót. Cô ả dựa vào vai Watson, khẽ gập gối, để lộ phần lớn
cặp đùi, và xem xét một bên giày. Cô ả nhẹ nhàng sửa lại dây giày, đứng lên rồi
mỉm cười với Watson. Vasco thôi nhìn bọn họ và thấy Tolman đã biến mất.
Nhưng lúc này thì
Watson và người phụ nữ lại băng ngang con đường Vasco đang đứng, lướt qua gần
đến nỗi gã có thể ngửi thấy mùi nước hoa trên cơ thể cô ta, và rồi gã nghe
Watson thì thầm cái gì đó với ả, ả siết chặt cánh tay Watson và vùi đầu vào vai
lão khi họ bước đi. Một bộ đôi lãng mạn.
Tất cả những thứ
đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Mọi chuyện xảy ra có chủ đích hay không? Họ
nhận ra gã rồi chăng? Gã ấn nhẹ vào chiếc máy trong tai.
“Dolly, tôi mất
dấu hắn rồi.”
“Không sao. Tôi
thấy hắn rồi.” Gã liếc lên. Cô ta đang ở trên tầng hai quan sát mọi thứ bên
dưới. “Có phải Jack Watson vừa đi ngang qua anh không?”
“Ừ. Tôi nghĩ có
lẽ...”
“Không, không,”
Dolly nói. “Tôi không tưởng tượng nổi Watson có dính dáng tới vụ này. Không
phải phong cách của lão. Tôi muốn nói là Nhóc Đầu Hói đi về phía phòng hắn vì
hắn có hẹn. Lúc nãy tôi nói với anh rồi. Hắn có trò tiêu khiển mà.”
“Là trò gì?”
“Con bé người Nga.
Hình như hắn chỉ thích gái Nga. Bọn gái chân dài.”
“Có ả nào chúng ta
biết không?”
“Không, nhưng tôi
có chút thông tin. Và tôi đã đặt camera trong phòng hắn.”
“Sao cô làm được
vậy?” gã vừa nói vừa mỉm cười.
“Anh chỉ cần biết
là an ninh ở Venetian không giống như trước đây nữa. Thậm chí còn rất rẻ cơ
đấy.”
Irina Katayeva, hai mươi hai tuổi,
gõ cửa. Trên tay trái, ả cầm một chai rượu vang được bọc trong túi quà bằng vải
nhung có dải rút ở miệng túi. Một gã chừng ba mươi tuổi ra mở cửa, miệng mỉm
cười. Hắn không có gì hấp dẫn.
“Anh là Eddie phải
không?”
“Đúng vậy. Vào
đi.”
“Tôi mang cái này
đến cho anh, từ két sắt của khách sạn.” Cô ta đưa cho hắn chai rượu.
Theo dõi diễn biến
mọi chuyện trên màn hình nhỏ cầm tay, Vasco nói, “Cô ta đưa thứ đó cho hắn ở
hành lang. Ở đây hai người sẽ bị phát hiện qua màn hình an ninh. Tại sao cô ta
không chờ cho tới khi vào phòng đã chứ?”
“Có lẽ cô ta được
dặn trước là phải làm như vậy,” Dolly nói.
“Cô ả chắc cao cỡ
một thước tám. Chúng ta biết gì về ả?”
“Tiếng Anh giỏi.
Bốn năm ở Mỹ. Đang học đại học.”
“Làm việc ở khách
sạn này không?”
“Không.”
“Vậy là dân nghiệp
dư?” Vasco hỏi.
“Đây là Nevada
mà,” Dolly nói.
Trên màn hình, ả
người Nga vào phòng và đóng cửa lại. Vasco xoay núm điều chỉnh, bắt được tín
hiệu tới một trong những camera gắn bên trong phòng. Tên nhóc có căn phòng rất
rộng, gần 186 thước vuông, được xây theo kiểu Venetian. Cô ả gật đầu và mỉm
cười.
“Đẹp. Phòng đẹp
đấy.”
“Ừ. Sao, cô uống
gì không?”
Cô ả lắc đầu. “Tôi
không có nhiều thời gian đâu.” Ả với tay ra sau lưng kéo khóa chiếc đầm, để nó
lủng lẳng trên hai vai. Ả quay lại, giả vờ bối rối vì để hắn thấy tấm lưng trần
chạy dài xuống tận cặp mông. “Phòng ngủ ở lối nào?”
“Lối này, cưng.”
Khi hai người vào
phòng ngủ, Vasco lại xoay núm điều chỉnh. Gã thấy căn phòng ngủ ngay lúc cô ả
đang nói, “Tôi không biết gì về chuyện mua bán của anh hết, và tôi cũng chả
muốn biết. Kinh doanh chán chết được.” Ả để chiếc đầm rơi xuống.
Ả bước ra khỏi chiếc đầm rồi nằm xuống giường, giờ thì hoàn toàn tồng ngồng trừ
đôi giày cao gót. Ả đá đôi giày ra. “Em không nghĩ anh cần uống gì cả,” ả nói.
“Và em biết mình cũng không cần.”
Tolman thả người
lên cô ả bằng một cú đáp đánh thịch xuống giường. Ả hự lên một tiếng rồi cố
gượng cười. “Từ từ nào cưng.” Hắn đang hổn hà hổn hển. Hắn rướn lấy tóc ả, mơn
trớn. “Để yên tóc em nào,” cô ả nói. Ả xoay người lại. “Cứ nằm xuống,” ả nói,
“rồi để em làm anh vui vẻ.”
“Khỉ thật,” Vasco nói, mắt
vẫn nhìn chằm chằm vào màn hình bé xíu. “Cô tin nổi không? Hắn thậm chí không
phải là một tên dân quân nữa. Khi một người phụ nữ trông như vậy, người ta phải
nghĩ...”
“Đừng bận tâm,”
Dolly nói qua tai nghe. “Cô ả đang thay đồ.”
“Đúng vậy thật,”
gã nói. “Mà còn khá gấp gáp nữa.”
“Đáng lẽ cô ả phải
cho hắn nửa tiếng đồng hồ chứ. Mà tôi không thấy trả tiền cho cô ả.”
“Tôi cũng không
thấy. Nhưng hắn cũng đang thay đồ kìa.”
“Có chuyện gì
đây,” Dolly nói. “Cô ta đang bước ra khỏi cửa.”
Vasco vặn núm chỉnh,
cố chuyển sang một camera khác. Nhưng những gì gã nhận được chỉ là màn hình
tĩnh điện. “Tôi chẳng thấy cái cứt gì cả.”
“Cô ả đang rời
phòng. Hắn vẫn còn ở đó. Không, khoan... hắn cũng đang rời phòng.”
“Vậy à?”
“Ừ. Và hắn mang
theo chai rượu.”
“Được rồi,” Vasco
nói. “Mà hắn định đem chai rượu đi đâu?”
Phôi đông lạnh trong ni tơ lỏng
được vận chuyển trong một loại phích đặc biệt làm bằng thép không gỉ bên trong
có tráng một lớp thủy tinh borosilicate. Loại phích này gọi là bình chân không
cryo. Bình chân không cryo đa phần có dung tích lớn, có hình như vại sữa, nhưng
cũng có loại dung tích nhỏ chừng một lít. Bình chân không cryo không có dáng
như chai rượu, vì thông thường miệng bình phải rộng, nhưng cũng có loại có kích
cỡ như bình rượu. Và chắc chắn có thể nằm gọn trong bao rượu.
“Chắc hắn đang
mang nó theo,” Vasco nói. “Chắc nó ở trong cái bao.”
“Tôi nghĩ vậy,”
Dolly nói. “Anh thấy bọn chúng chưa?”
“Rồi, thấy rồi.”
Vasco đuổi kịp đôi
nam nữ ở tầng trệt, gần quầy cho thuê thuyền gondola. Họ rảo bước tay trong
tay, gã đàn ông đang quắp chai rượu ở chỗ khuỷu tay, giữ nó thẳng đứng. Cách
cầm rượu rõ là ngượng nghịu, và hai người làm thành một đôi kỳ khôi - cô nàng
xinh đẹp bên cạnh anh chàng thõng thẹo thiếu tự tin. Họ bước dọc con kênh, hầu
như chẳng hề liếc mắt đến những cửa hiệu trên đường.
“Chúng đang trên
đường tới hội nghị,” Vasco nói.
“Tôi thấy bọn
chúng rồi,” Dolly nói. Vasco nhìn xuống con phố đông đúc và thấy Dolly ở đầu
kia. Dolly hai mươi tám tuổi, ngoại hình hoàn toàn bình thường. Dolly có thể là
bất kỳ ai: kế toán viên, bạn gái, thư ký, trợ lý. Cô ta có thể hóa thân thành
bất kỳ loại người nào. Đêm nay cô ta vận trang theo phong cách Vegas, tóc vàng
chải thành lọn phía trước và mặc một bộ đầm óng ánh xẻ ngực. Cô ta hơi đầy đặn,
khiến cho ấn tượng bên ngoài càng hoàn hảo. Vasco đã làm việc cùng cô ta được
bốn năm, và cả hai là một bộ đôi ăn ý. Về đời sống riêng tư hai người cũng chỉ
hòa hợp ở mức trung bình. Cô ta ghét gã hút xì gà trên giường.
“Đang hướng về
phía đại sảnh,” Dolly nói. “Không, chúng đang quay lại hướng cũ.”
Đại sảnh là một
hành lang khổng lồ hình bầu dục, trần cao mạ vàng, ánh đèn dịu, cột trụ cẩm
thạch. Nó làm cho những đám đông qua lại trong đó trở nên nhỏ bé. Vasco lưỡng
lự. “Chúng đổi ý à? Hay chúng phát hiện ra chúng ta rồi?”
“Tôi nghĩ chúng
đang rất thận trọng.”
“Chà, khoảnh khắc
quan trọng đây.” Bởi lẽ, cấp thiết hơn cả việc tóm được kẻ đào tẩu, hai người
phải biết hắn giao phôi cho ai. Rõ ràng phải là một ai đó ở hội nghị.
“Sẽ không lâu nữa
đâu,” Dolly nói.
Rick Diehl đi đi lại lại bên
cạnh những cửa hiệu nằm dọc con kênh dành cho thuyền gondola, tay cầm di động.
Hắn chẳng ngó ngàng gì tới những cửa hiệu bày bán đủ loại đồ đắt tiền mà chẳng
bao giờ hắn cần. Diehl là con thứ ba của một bác sĩ người Baltimore. Hai người
kia đều theo học trường y và trở thành bác sĩ sản khoa như bố. Diehl không chọn
con đường đó mà theo ngành nghiên cứu y học. Áp lực gia đình cuối cùng cũng
buộc hắn dời đến miền Tây. Hắn nghiên cứu về di truyền học ở Đại học San
Francisco trong một thời gian ngắn, nhưng thứ cuốn hút hắn nhiều hơn lại là nền
văn hóa kinh doanh tại các trường đại học ở San Francisco. Dường như mọi giáo
sư danh giá đều tự lập công ty riêng hoặc có ghế trong ban điều hành các công
ty công nghệ sinh học. Trong bữa trưa, mọi chuyện đều xoay quanh chủ đề chuyển
giao công nghệ, cấp phép chéo, trả lương theo công đoạn, thu mua và xuất chi,
sở hữu trí tuệ trước và sau thành phẩm.
Hồi ấy Karen, vợ
Rick, vừa nhận được một khoản thừa kế kếch sù, và hắn nhận ra mình đã có đủ vốn
để khởi nghiệp. Vùng Bay Area đầy dẫy các công ty luôn cạnh tranh khốc liệt để
giành được mặt bằng và nhân lực. Hắn quyết định rời đến vùng Bắc Los Angeles,
nơi Amgen đã dựng lên một cơ sở khổng lồ. Diehl xây một nhà máy nguy nga hiện
đại, thuê các nhóm nghiên cứu sáng giá, và bắt đầu phát triển. Bố và anh em hắn
đến thăm. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả bọn họ đều bị ấn tượng.
Nhưng... tại sao
cô không gọi lại cho hắn? Hắn nhìn đồng hồ đeo tay. Chín giờ rồi. Tụi nhỏ bây
giờ đã ngủ rồi chứ. Và Karen đáng lẽ đã phải ở nhà. Người hầu gái nói cô đã ra
ngoài cách đây một tiếng, nhưng không biết đi đâu. Karen không bao giờ ra khỏi
nhà mà không mang theo điện thoại. Chắc chắn cô phải mang theo điện thoại. Tại
sao cô không gọi lại cho hắn?
Hắn không hiểu gì
cả, và chuyện đó khiến hắn vô cùng thấp thỏm. Hắn đang ở đây, đang lẻ loi giữa
cái thành phố khốn kiếp với mật độ phụ nữ đẹp dày đặc chưa từng thấy này. Phải,
họ đều chỉ là chất dẻo, đã được phẫu thuật rất nhiều, nhưng lại vô cùng khêu
gợi.
Ngay phía trước
mặt, hắn thấy một gã đàn ông luộm thuộm đang dạo bước cùng một con bé cao ráo
sải từng bước dài trên đôi giày cao gót, và cô nàng thực sự khiến người ta phải
mê mẩn: mái tóc đen huyền, làn da mịn màng, và một thân hình nóng bỏng, mảnh
khảnh. Gã trai luộm thuộm đó hẳn đã phải trả không ít tiền để có được cô nàng,
mà cho dù là vậy, gã rõ ràng chẳng coi con bé ra gì. Gã đang ôm chặt chai rượu
như thể ôm một đứa bé, và trông gã có vẻ hồi hộp đến nỗi gần như đang vã mồ
hôi.
Nhưng con bé ấy...
Chúa ơi, con bé thật nóng bỏng. Nóng bỏng, nóng bỏng...
Cái quái gì mà
Karen không gọi lại cho mình chứ, hắn nghĩ.
“Này,” Vasco nói. “Nhìn kìa nhìn
kìa. Gã BioGen đó. Đi lảng vảng như đang rỗi việc ấy.”
“Tôi cũng thấy gã
mà,” Dolly nói. Cô ta đứng cách hắn chừng một ngã tư.
“Ừ, vậy thì thôi.”
Tolman và ả người
Nga đi ngang qua trước mặt gã BioGen, nhưng hắn chẳng làm gì ngoài việc bật nắp
điện thoại và bấm số. Tên hắn là gì nhỉ? Diehl. Vasco đã nghe phong phanh đâu
đó về hắn. Khởi nghiệp nhờ tiền của vợ, và giờ đây có lẽ vợ hắn đang thao túng
cuộc hôn nhân của hai người. Đại loại là vậy. Một con nhỏ giàu sụ, gia đình
miền Đông cổ điển, lắm tiền của. Mấy con nhỏ như thế rất có tiếng nói trong gia
đình.
“Nhà hàng,” Dolly
nói. “Chúng đang đi vào nhà hàng Terrazo.”
Il Terrazzo Antico
là một nhà hàng hai tầng có ban công bọc kính. Nội thất được trang hoàng như
một nhà chứa hiện đại, mọi thứ đều mạ vàng. Cột, trần, tường: mọi bề mặt đều
được trang trí. Khiến Vasco chỉ nhìn thôi cũng thấy thấp thỏm.
Đôi nam nữ bước
vào, ngang qua trước bàn đặt chỗ, hướng về một chiếc bàn bên hông nhà hàng. Và
tại chiếc bàn đó, Vasco thấy một gã trông như một tay anh chị, da sẫm, mày đậm,
thân hình lực lưỡng, đang nhìn chằm chằm vào cô ả người Nga và liếm môi một
cách thực dụng.
Tolman bước xốc
tới bàn và nói gì đó với gã đàn ông da sẫm. Gã này trông có vẻ bối rối. Gã đâu
có mời bọn họ ngồi cơ chứ. Vasco nghĩ, Có gì không ổn đây. Cô ả người
Nga hơi lùi lại phía sau.
Ngay lúc đó một
tia sáng lóe lên. Dolly vừa chụp ảnh. Tên nhóc Tolman quay lại nhìn, hiểu ra
mọi chuyện và bỏ chạy thục mạng.
“Cứt thật, Dolly!”
Vasco bắt đầu đuổi
theo Tolman khi hắn đã chạy sâu hơn vào trong nhà hàng. Một anh bồi giơ tay
chặn lại. “Thưa ông, xin lỗi...”
Vasco hất anh ta
ngã sóng soài, tiếp tục truy đuổi. Tolman đang ở phía trước, chân di chuyển
chậm hơn khả năng của mình, bởi lẽ hắn đang cố gắng không làm rung chai rượu
quý giá. Nhưng hắn chẳng biết sẽ chạy đi đâu nữa. Hắn không thông thạo nhà hàng
này; hắn chỉ biết chạy. Lao đánh rầm xuyên qua những cánh cửa đang đung
đưa chân vào nhà bếp, Vasco theo sát ngay phía sau. Mọi người hét lên khi thấy
hai người, một vài đầu bếp vung vẩy dao, nhưng Tolman cứ lao vào, dường như
đinh ninh rằng nhà bếp này có cửa hậu ở đâu đó.
Không có. Hắn bị
kẹt. Hắn lồng lộn nhìn quanh. Vasco đi chậm lại. Gã phô một trong những phù
hiệu của mình nằm trong một cái ví trông như từ cơ quan công quyền. “Quyền bắt
giữ của công dân,” gã nói. Tolman thu mình lùi lại, bên cạnh hắn là hai tủ đá
lớn vừa vặn cho một người vào đó và một cánh cửa hẹp có cửa sổ mỏng thẳng đứng.
Tolman đi qua cánh cửa hẹp và cửa đóng lại phía sau.
Đèn hiệu bên cạnh
cửa nhấp nháy.
Đó là thang máy
vận chuyển hàng.
Cứt. “Thang máy này
đi đâu?”
“Tầng hai.”
“Tầng nào nữa?”
“Không, tầng hai
thôi.”
Vasco ấn tai nghe.
“Dolly?”
“Tôi đây,” cô ta
nói. Gã nghe cô ta thở hổn hển khi chạy lên lầu.
Vasco đứng chờ
trước cửa thang máy. Gã bấm nút gọi thang máy xuống.
“Tôi đang ở chỗ
thang máy,” Dolly nói. “Tôi thấy hắn rồi; hắn đi xuống trở lại.”
“Thang máy này nhỏ
xíu,” Vasco nói.
“Tôi biết.”
“Nếu hắn thực sự
đang giữ ni tơ lỏng bên mình, đáng lẽ hắn không nên ở trong đó.” Vài năm trước,
Vasco đã dồn một tên đào tẩu vào một kho hàng chứa đồ thí nghiệm. Tên này suýt
chết ngộp sau khi tự nhốt mình trong một chiếc tủ chứa đồ.
Thang máy đi
xuống. Ngay khi thang máy ngừng lại Vasco đã giật mạnh tay nắm để mở cửa, nhưng
Tolman chắc đã bấm nút khẩn cấp trước đó, vì cánh cửa không chịu mở. Vasco thấy
bao rượu trên sàn. Lớp vải nhung đã bị đẩy xuống để lộ vành thép không gỉ của
chiếc bình chân không cryo.
Và nắp bình đã mở.
Khói trắng bốc quanh miệng bình.
Qua tấm kính,
Tolman đang nhìn gã chòng chọc, hai mắt ngây dại. “Ra đây đi, nhóc con,” Vasco
nói. “Đừng dại dột nữa.”
Tolman lắc đầu.
“Nguy hiểm lắm.”
Vasco nói. “Mày biết là nguy hiểm mà.”
Nhưng tên nhóc bấm
nút, và thang máy khởi động trở lại.
Vasco có linh cảm
không hay.
Tên nhóc biết rõ.
Hắn biết rất rõ điều hắn đang làm.
“Hắn trên đây,” Dolly nói, cô ta
đang đứng trên tầng hai. “Nhưng cửa không chịu mở. Không, hắn lại đang xuống.”
“Trở lại bàn đi,”
Vasco nói với cô. “Để hắn đi.”
Cô hiểu ngay gã
đang nói gì. Cô chạy trên cầu thang bọc nhung đỏ sang trọng để xuống tầng trệt.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy chiếc bàn mà lúc nãy tên anh chị ngồi giờ đây
trống rỗng. Chẳng có tay anh chị. Chẳng có cô ả người Nga xinh đẹp. Chỉ có tờ
một trăm đô la kẹp dưới ly. Hắn trả bằng tiền mặt, dĩ nhiên rồi.
Và biến mất.
Vasco giờ đang ở giữa
ba tay bảo vệ khách sạn, cả ba đang nói cùng một lúc. Đứng cao hơn nửa cái đầu
so với họ, gã hét lên kêu giữ im lặng. “Hỏi mấy anh cái này,” gã nói. “Làm sao
chúng ta mở được cửa thang máy?”
“Chắc hắn đã nhấn
nút bỏ qua chế độ tự động.”
“Làm sao mở
thang máy ra được?”
“Phải cắt đứt
nguồn điện tới thang máy.”
“Vậy sẽ mở được
à?”
“Không, nhưng sau
đó ta có thể chêm cái gì vào để mở cửa khi thang máy ngừng.”
“Làm vậy mất bao
lâu?”
“Chắc cũng mười,
mười lăm phút gì đấy. Không vấn đề gì đâu, gã này chẳng đi đâu được cả.”
“Có, hắn đi được
đấy,” Vasco nói.
Tay bảo vệ cười
phá lên. “Hắn có thể đi tới chỗ quái quỷ nào chứ?”
Thang máy lại đi
xuống. Tolman đang quỳ gối, tay nắm chặt cánh cửa kính.
“Dậy đi,” Vasco
nói. “Dậy đi, dậy đi. Thôi nào, con trai, không đáng đâu, dậy đi!”
Bất thình lình,
mắt Tolman trợn ngược rồi hắn ngã ngửa ra sau. Thang máy lại bắt đầu đi lên.
“Cái quái gì vậy?”
một tay bảo vệ nói. “Hắn ta là ai mới được?”
Ặc, cứt thật, Vasco nghĩ.
Tên nhóc đã nhấn nút nào đó
để vượt qua chế độ tự động của thang máy làm mạch điện bị kẹt. Phải mất bốn
mươi phút người ta mới mở được cửa và khiêng hắn ra ngoài. Dĩ nhiên hắn đã chết
từ lâu. Ngay lúc ngã ra sau, hắn đã bị bao phủ trong một không gian hoàn toàn
chỉ có khí ni tơ, bốc ra từ dòng ni tơ lỏng trong chiếc bình chân không cryo.
Vì ni tơ nặng hơn không khí, nó dần dần lấp đầy thang máy từ sàn đến trần. Khi
tên nhóc ngã phịch xuống, hắn gần như đã bất tỉnh, và tắt thở trong chừng một
phút sau đó.
Những tay bảo vệ
muốn biết có gì trong chiếc bình chân không cryo, giờ đã ngừng bốc hơi. Vasco
đeo găng tay và kéo ra một thanh kim loại dài. Chẳng có gì ngoài mấy cái kẹp
rỗng mà lẽ ra những cái phôi phải nằm ở đó. Ai đó đã lấy mấy cái phôi đi.
“Anh muốn nói là
hắn tự tử à?” một người bảo vệ hỏi.
“Đúng vậy,” Vasco
nói. “Hắn làm việc cho một phòng thí nghiệm về phôi. Hắn biết ni tơ lỏng trong
không gian hạn hẹp rất nguy hiểm.” Ni tơ gây thương vong trong phòng thí nghiệm
nhiều hơn bất kỳ hóa chất nào khác. Một nửa số người đã chết trong lúc tìm cách
cứu đồng nghiệp đang bị ngất xỉu.
“Đó là cách hắn
thoát khỏi một tình cảnh tồi tệ,” Vasco nói.
Một lúc sau, trên
đường về nhà với gã, Dolly hỏi, “Vậy chuyện gì xảy ra với mấy cái phôi?”
Vasco lắc đầu.
“Không biết. Tên nhóc không giữ chúng.”
“Anh có nghĩ ả kia
lấy không? Lấy trước khi ả vào phòng hắn ấy?”
“Kẻ nào đó đã
lấy.” Vasco thở dài. “Không ai ở khách sạn đó biết ả sao?”
“Họ đã xem lại
camera an ninh rồi. Họ không biết ả.”
“Ả còn tới trường
không?”
“Năm ngoái ả có
học đại học. Năm nay ả không ghi danh.”
“Vậy là ả đã biến
mất.”
“Ừm,” Dolly nói.
“Ả, gã da sẫm, mấy cái phôi. Mọi thứ đều biến mất.”
“Tôi muốn biết mọi
chuyện khớp với nhau ra sao,” Vasco nói.
“Có lẽ chẳng có gì
khớp nhau đâu,” Dolly trả lời.
“Chẳng phải lần
đầu,” Vasco nói. Phía trước mặt, gã thấy ánh đèn nê ông của một quầy rượu giữa
sa mạc(. Gã tấp xe vào lề. Gã cần uống chút gì đó.
|