[...]
Một
nhà vô địch quyền Anh hạng nặng người Thổ đang thơ thẩn khoác tay mẹ đi dạo dọc
một đường phố Hamburg thì không thể trách anh ta không nhận
ra mình đang bị một gã trai gầy nhom mặc áo choàng đen theo dõi.
Melik
Lớn, như anh được biết đến và ngưỡng mộ trong vùng này, là một chàng trai thân
hình đồ sộ, râu ria tua tủa, trông nhếch nhác và tốt bụng, với nụ cười tự nhiên
toác đến mang tai và mớ tóc đen buộc lại sau gáy như cái đuôi ngựa, dáng đi lắc
lư, nghênh ngang, không có mẹ đi bên thì anh cũng đã choán hết nửa vỉa hè. Ở
tuổi hai mươi anh đã là một người nổi tiếng trong cái thế giới nhỏ bé của mình,
mà không chỉ về tài nghệ trên võ đài: anh còn là đại biểu trẻ được câu lạc bộ
thể thao Hồi giáo bầu lên, ba lần chiếm ngôi á quân trong Giải Vô địch Bắc Đức
môn bơi bướm 100 mét, và như thể thế vẫn còn chưa đủ, anh còn là thủ môn xuất
sắc trong đội bóng đá ngày thứ Bảy.
Giống
như phần lớn những người to con khác, anh quen được người ta nhìn hơn là nhìn
người khác, đó là một lý do nữa vì sao gã trai còm nhom theo dõi anh đã ba ngày
đêm liền mà chưa bị phát hiện.
Hai
người lần đầu tiên chạm mắt nhau khi Melik và mẹ anh, Leyla, từ văn phòng du
lịch al-Umma bước ra, vừa mua vé máy bay để về dự đám cưới em gái của Melik ở
làng quê họ bên ngoài Ankara. Melik cảm thấy có ai đang nhìn mình chằm chằm,
anh đảo mắt nhìn quanh thì đối mặt với một gã trai cao bằng anh, gầy đét, với
bộ râu lởm chởm, đôi mắt sâu hoắm đỏ ngầu và một chiếc áo choàng đen dài đủ
trùm đến ba lão phù thủy. Gã có chiếc khăn trùm đầu hai màu đen trắng quấn
quanh cổ và một chiếc túi yên lữ hành bằng da lạc đà đeo trên vai. Gã trân trân
nhìn hết Melik rồi qua Leyla mẹ anh. Rồi gã lại nhìn sang Melik, không chớp
mắt, nhưng khẩn cầu anh bằng đôi mắt trũng sâu, tha thiết.
Tuy
nhiên cái vẻ khốn quẫn tuyệt vọng của gã trai chẳng có gì để Melik phải bận tâm
cho lắm, vì văn phòng du lịch nằm ở bìa một phòng đợi nhà ga xe lửa chính, nơi
đủ loại linh hồn tội lỗi - những người Đức lang thang, người châu Á, người A
Rập, người Phi và người Thổ Nhĩ Kỳ như anh, nhưng kém may mắn hơn - suốt ngày
lảng vảng, chưa kể đến những người cụt chân ngồi xe lăn chạy điện, những tay
buôn ma túy và khách hàng của chúng, những kẻ ăn mày và chó của họ, và một
chàng cao bồi bảy mươi tuổi đội mũ rộng vành mặc quần cưỡi ngựa bằng da đính
bạc. Vài người có công việc, còn một số ít chẳng có chuyện quái gì để đứng trên
đất Đức này mà may mắn lắm là được dung túng theo một chính sách bần cùng có
chủ ý, trong khi chờ lệnh trục xuất tức khắc, thường đến với họ vào lúc rạng
sáng. Chỉ những kẻ mới đến hoặc những kẻ ngang ngạnh điên rồ mới dám liều mạng.
Những kẻ sống chui bất hợp pháp khôn ngoan hơn bao giờ cũng tránh xa các nhà ga.
Một
lý do chính đáng nữa để bỏ qua gã trai kia là bản nhạc cổ điển mà ban quản lý
nhà ga cho mở oang oang hết cỡ trong khu vực này của phòng đợi, phát ra từ
những bộ loa nhắm kỹ. Mục đích của nó còn lâu mới là để lan tỏa cảm giác bình
yên và hạnh phúc ra các thính giả, mà là để tống cổ họ đi.
Bất
chấp những trở ngại ấy, khuôn mặt của gã trai gầy nhom vẫn in hằn lên ý thức
của Melik và trong một khoảnh khắc thoáng qua anh cảm thấy ngượng vì hạnh phúc
của mình. Tại sao anh lại phải ngượng nhỉ? Một điều tuyệt diệu vừa xảy ra, và
anh nóng lòng gọi điện cho em gái để báo rằng mẹ của họ, Leyla, sau sáu tháng
săn sóc người chồng ốm nằm chờ chết, và sau một năm khóc thương ông đến tan nát
cả cõi lòng, đang mừng quýnh lên vì sắp được về dự đám cưới con gái, và đang
cuống lên về đủ chuyện, nào không biết nên mặc gì, nào của hồi môn có đủ lớn
không, nào chàng rể mới thật bảnh trai khiến ai cũng tấm tắc khen, cả em gái
của Melik cũng khen.
Vậy
thì tại sao Melik lại không được huyên thuyên với mẹ? Anh đang làm thế, thật
say sưa, suốt quãng đường về nhà. Là do sự im lặng của gã trai gầy guộc kia,
lúc sau anh xác định thế. Những nếp nhăn trên một gương mặt còn trẻ như mặt
mình. Vẻ mặt mùa đông của hắn vào một ngày xuân đẹp đẽ.
* * *
Hôm
ấy là thứ Năm.
Và
vào tối thứ Sáu, khi Melik cùng với Leyla vừa ra khỏi nhà thờ thì gã lại
xuất hiện, vẫn gã trai đó, vẫn chiếc khăn và chiếc áo choàng rộng quá khổ đó,
núp mình trong bóng tối một khung cửa đầy bụi bẩn. Lần này Melik nhận thấy cái
thân hình gầy trơ xương đó có dáng đứng nghiêng nghiêng, như thể gã vừa bị đấm
bật ra và giữ nguyên góc nghiêng lệch ấy cho đến khi có ai bảo gã đứng thẳng
lên được rồi. Và cái nhìn rực lửa thậm chí còn mãnh liệt hơn hôm trước. Melik
nhìn thẳng vào đôi mắt trân trối ấy, anh ước giá mình chưa nhìn, và anh nhìn
lảng đi.
Và
cuộc chạm trán lần thứ hai này càng ít có khả năng xảy ra bởi vì Leyla và Melik
rất hiếm khi đi nhà thờ, ngay cả một nhà thờ ôn hòa dùng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Từ
11/9, các nhà thờ Hồi giáo ở Hamburg đã trở thành chốn nguy hiểm. Vào nhà thờ
không nên vào, hay vào đúng nhà thờ nhưng gặp thầy tế không nên gặp, thế là ta
có thể thấy mình và gia đình nằm trong danh sách theo dõi của cảnh sát đến hết
đời. Không ai nghi ngờ rằng gần như trong mỗi hàng tín đồ cầu nguyện đều có
những kẻ mật báo đi đêm với chính quyền. Không một ai, dù là người Hồi giáo hay
chỉ điểm cho cảnh sát, hay cả hai, có thể quên rằng thành Hamburg đã từng là
nơi vô tình chứa chấp ba tên không tặc ngày 11/9, chưa nói đến những đồng bọn
của chúng, thành viên của nhóm khủng bố, những kẻ âm mưu, hoặc quên rằng
Mohammed Atta, kẻ lái chiếc máy bay đầu tiên đâm vào tòa Tháp Đôi, đã thờ vị
thần đầy thịnh nộ của hắn trong một đền thờ bình thường ở Hamburg.
Còn
có một thực tế là, từ khi chồng chết, Leyla và con trai đã không còn thực hành
tín ngưỡng nhiều như trước. Vâng, tất nhiên sinh thời ông già là tín đồ Hồi
giáo, và cũng là người thế tục. Nhưng ông là chiến sĩ bảo vệ quyền của người
lao động, đó là lý do tại sao ông bị đuổi khỏi quê hương. Lý do duy nhất họ còn
đến đền thờ là bởi Leyla, theo kiểu bốc đồng của bà, bỗng cảm thấy cần đến. Bà
đang hạnh phúc. Gánh nặng nỗi đau khổ của bà đã được cất đi. Lại sắp đến ngày
giỗ đầu của chồng bà. Bà cần nói chuyện với ông để chia sẻ tin vui. Họ đã bỏ lỡ
buổi cầu nguyện chính ngày thứ Sáu, song có thể cầu nguyện ở nhà cũng được.
Nhưng ý muốn ngẫu hứng của Leyla là luật. Lấy cớ đúng đắn rằng những lời cầu
nguyện riêng tư sẽ dễ được nghe thấu hơn khi được cầu nguyện vào buổi tối, bà
khăng khăng đòi đi dự giờ cầu nguyện cuối cùng trong ngày, giờ ấy nhà thờ hầu
như vắng vẻ.
Rõ
ràng cuộc chạm trán thứ hai của Melik với gã trai còm nhom, cũng như lần đầu,
chỉ là tình cờ. Vì nó có thể là gì khác nữa? Hay là thế, theo cách chất phác
của mình, chàng Melik tốt bụng lập luận.
* * *
Hôm
sau là thứ Bảy, Melik đón xe buýt xuyên thành phố đến thăm ông chú giàu có tại xưởng
làm nến của gia đình. Quan hệ giữa ông chú và cha anh đã có những lúc căng
thẳng, nhưng từ khi cha anh chết anh đã biết tôn trọng tình thân với ông chú.
Lúc nhảy lên xe buýt, người mà anh trông thấy chẳng ai khác là gã trai còm nhom
ngồi bên dưới anh trong buồng kính của nhà chờ, nhìn anh khởi hành. Và sáu
tiếng sau, khi anh trở lại đúng trạm xe buýt ấy, gã trai vẫn còn đó, quấn trong
chiếc khăn trùm và chiếc áo choàng phù thủy, vẫn thu mình trong góc ấy, đợi.
Khi
thấy gã thì Melik, kẻ đã tự hứa lấy tình yêu đồng đều toàn nhân loại làm quy
tắc sống cho mình, bỗng có một ác cảm dữ dằn. Anh cảm thấy gã trai còm nhom kia
đang kết tội anh về một điều gì đó và gã căm tức điều đó. Tệ hơn nữa, ở gã có
một vẻ gì trịch thượng, bất chấp hoàn cảnh khốn khổ của gã. Dù gì, gã nghĩ gã
đạt được cái quái quỷ gì với chiếc áo choàng đen buồn cười ấy? Nó khiến gã tàng
hình được hay gì đó chắc? Hay là gã đang cố ám chỉ gã quá xa lạ với kiểu cách
Tây của chúng ta đến mức gã chẳng biết gì về cái bộ dạng mà gã tạo ra?
Dù
thế nào thì Melik cũng quyết định gạt gã ra khỏi ý nghĩ. Bởi vậy đáng lẽ bước
đến chỗ gã mà hỏi xem gã có cần giúp gì không, hay gã có ốm không, điều mà
trong hoàn cảnh khác có lẽ anh đã làm, anh sải những bước dài đi về nhà, tin
chắc rằng gã còm nhom không cách gì đuổi kịp anh.
Trời
quá nóng nực đối với một ngày mùa xuân, mặt trời thiêu đốt vỉa hè chật cứng
người. Thế mà gã còm nhom chẳng hiểu bằng cách thần kỳ nào đã theo kịp bước
Melik, tập tễnh hổn hển, khò khè nhễ nhại mồ hôi, chốc chốc lại nhảy lên như bị
đau, nhưng đã cố theo kịp anh ở các ngã tư đường dành cho người đi bộ.
Và
khi Melik bước vào ngôi nhà gạch nhỏ mà sau mấy chục năm gia đình tằn tiện, mẹ
anh bây giờ đã được sở hữu gần như hết nợ, anh vừa mới kịp thở được vài hơi thì
chùm chuông cửa vang lên. Anh quay xuống cầu thang, gã còm nhom đang đứng đó
trên bậc cửa với chiếc túi yên khoác trên vai, đôi mắt gã lóe lên do vừa cố sức
đi nhanh, mồ hôi tuôn xuống mặt gã như mưa rào mùa hạ, và bàn tay gã run rẩy cầm
một mảnh bìa cứng nâu trên đó viết bằng chữ Thổ Nhĩ Kỳ: Tôi là sinh viên y khoa Hồi giáo. Tôi
mệt và muốn xin nghỉ ở nhà ông. Issa. Và
như thể muốn nhấn mạnh bằng được cái thông điệp ấy, trên cổ tay gã là một chiếc
vòng bằng vàng ròng, lủng lẳng một mô hình kinh Koran nhỏ xíu cũng bằng vàng.
Nhưng
đến lúc này thì Melik đã tức giận tràn trề. Phải, anh không phải là người thông
minh nhất mà trường anh từng biết, nhưng anh ghét cái cảm giác có tội và thua
kém, rồi bị theo đuổi và rình mò bởi một thằng ăn mày điệu bộ. Khi cha anh chết
Melik đã kiêu hãnh nhận lấy vai trò chủ nhà và là người bảo vệ cho mẹ anh, và
như để khẳng định hơn nữa quyền uy của mình, anh đã làm những việc mà cha anh
đã làm không thành công trước khi ông chết: là cư dân Thổ Nhĩ Kỳ thế hệ thứ
hai, anh đã đưa mẹ anh và bản thân anh lên con đường dài và gian nan để trở
thành công dân Đức, nơi mà mọi khía cạnh của lối sống gia đình đều được soi
dưới kính hiển vi, và tám năm tư cách không tì vết là điều kiện tiên quyết đầu
tiên. Điều anh hay mẹ anh chẳng hề cần là một kẻ lang thang loạn trí nào đó tự
nhận là sinh viên y khoa và cầu xin bên bậc cửa nhà anh.
“Cút
khỏi đây ngay,” anh bước đến gã còm ở cửa, ra lệnh cho gã một cách cộc cằn bằng
tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. “Ra khỏi đây, đừng đi theo chúng tao và đừng trở lại đây nữa.”
Không
gặp phản ứng gì từ khuôn mặt hốc hác ấy ngoại trừ một cái nhăn mặt như thể bị
đánh, Melik nhắc lại lệnh của mình bằng tiếng Đức. Nhưng khi anh định đóng sập
cửa, anh nhận ra là Leyla đang đứng trên cầu thang sau lưng anh, nhìn qua vai
anh về gã trai và dòng chữ trên mảnh bìa cứng đang run bần bật không dừng được
trong tay gã.
Và
anh đã thấy những giọt nước mắt thương cảm trong mắt bà rồi.
* * *
Ngày
Chủ nhật qua đi và sáng thứ Hai Melik kiếm cớ để không đến cửa hàng bán rau quả
của người anh họ ở Wellingsbüttel. Anh phải ở nhà luyện tập cho Giải Vô địch
Quyền Anh Nghiệp dư Mở rộng, anh nói với mẹ thế. Anh phải luyện tập trong phòng
thể dục và ở hồ bơi Olympic. Nhưng thực ra anh nghĩ bà sẽ không an toàn khi ở
nhà một mình với một kẻ tâm thần cao kều, mắc chứng hoang tưởng tự đại, khi nào
không cầu nguyện hay nhìn trừng trừng vào tường thì gã lại đi lang thang quanh
nhà, đưa tay vuốt ve mọi vật như thể gã nhớ ra chúng từ lâu. Leyla là một phụ
nữ vô song theo đánh giá của con trai bà, nhưng từ khi chồng chết bà trở nên
nhẹ dạ và hoàn toàn bị tình cảm dẫn dắt. Những ai mà bà đã chọn để yêu thì
không thể làm gì sai trái. Cách xử sự mềm mỏng của Issa, tính bẽn lẽn của gã và
cái hạnh phúc chớm nở đến đột ngột đã tức khắc biến gã thành một thành viên
trong nhóm bầu bạn chọn lọc này.
Ngày
thứ Hai và tiếp theo, thứ Ba, Issa hầu như chẳng làm gì ngoài ngủ, cầu kinh và
tắm. Khi nói chuyện gã dùng một thứ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ ngắc ngứ với âm yết hầu kỳ
cục, len lét, nhát gừng, như thể bị cấm nói, tuy nhiên, theo một cách khó hiểu
nào đó, đối với lỗ tai Melik, nó vẫn mô phạm. Nếu không thì gã ăn. Trời, gã
tọng tất cả những thức ăn ấy vào đâu không biết? Vào bất kỳ giờ nào trong ngày,
hễ Melik bước vào trong bếp là đều thấy gã ở đấy, đầu cúi xuống bát thịt cừu
cùng cơm với rau, chiếc thìa không bao giờ ngừng, đôi mắt gã đảo từ bên này
sang bên kia chỉ sợ ai giật mất thức ăn của gã. Ăn xong, gã vét sạch bát bằng
một mẩu bánh mì, rồi ăn mẩu bánh đó với một lời thầm thì “Tạ ơn Thượng đế” và
một nụ cười tự mãn thoang thoáng trên mặt như thể gã có một bí mật quá tuyệt
không thể chia sẻ với họ, gã mang bát ra chậu rửa và rửa dưới vòi nước, một
việc mà đã lâu lắm rồi Leyla không để cho con hoặc chồng phải làm. Bếp núc là
lãnh địa của bà. Đàn ông tránh ra.
“Vậy
cậu tính bao giờ thì cậu bắt đầu vào học y khoa, Issa?” Melik bất chợt hỏi gã,
để cho mẹ anh nghe thấy.
“Nếu
Thượng đế muốn thì sẽ sớm thôi. Tôi phải mạnh. Tôi phải không còn là thằng ăn
mày.”
“Cậu
cần có giấy phép cư trú, cậu biết không. Và thẻ sinh viên. Chưa nói đến gần một
trăm ngàn euro chi phí ăn ở. Và một chiếc ô tô để chở bạn gái đi chơi.”
“Thượng
đế vô cùng nhân từ. Khi tôi không còn là ăn mày nữa, Người sẽ cho tôi.”
Trong
con mắt Melik lòng tự tin thái quá ấy vượt quá lòng mộ đạo thuần túy.
“Hắn
làm cho chúng ta thật tốn tiền, mẹ ạ,” anh xông vào bếp mà nói trong khi Issa
đang ở trên tầng áp mái không thể nghe thấy. “Xem cái cách hắn ăn kìa. Rồi cả
tắm rửa nữa.”
“Không
nhiều hơn con đâu, Melik ạ.”
“Không,
nhưng hắn đâu phải là con, đúng không? Mẹ con ta không biết hắn là ai.”
“Issa
là khách của ta. Khi nào nó bình phục, với sự giúp sức của đấng Allah, ta sẽ
tính đến tương lai của nó,” mẹ anh trả lời đầy cao thượng.
Những
cố gắng làm ra vẻ khiêm nhường của Issa chỉ khiến gã đáng ngờ hơn trong mắt
Melik. Trong khi đi khép nép trong hành lang chật hay định leo thang lên gian
gác mái nơi Leyla đã soạn giường cho gã, gã dùng cái lối mà Melik coi là thận
trọng thái quá, xin được cho phép bằng đôi mắt nai, đứng ép người vào tường khi
Melik hoặc Leyla cần đi qua.
“Issa
vừa ở tù ra đấy,” một buổi sáng Leyla thông báo một cách điềm tĩnh.
Melik
kinh hoàng. “Mẹ biết chắc chứ? Mình đang chứa chấp một tên tù à? Liệu cảnh sát
có biết chuyện đó không? Chính hắn kể với mẹ à?”
“Nó
nói rằng trong tù ở Istanbul mỗi ngày người ta chỉ phát cho một mẩu bánh và một
bát cơm,” Leyla nói, và, không để cho Melik kịp phản đối, bà thêm vào một trong
những giải pháp đơn giản ưa thích của ông chồng quá cố: “Chúng ta trọng đãi
khách và cứu giúp những ai đang khốn quẫn. Không có nghĩa cử từ thiện nào mà
không được tưởng thưởng trên Thiên đường,” bà nói ngân nga. “Chính cha con chả
bị tù ở Thổ Nhĩ Kỳ đấy là gì, Melik? Không phải ai vào tù cũng đều là tội phạm.
Đối với những người như Issa và cha con, nhà tù là huy chương danh dự.”
Nhưng
Melik biết bà còn che giấu những ý nghĩ khác mà bà chưa muốn thổ lộ ra. Allah
đã đáp lại lời khẩn cầu của bà. Người đã gửi đến cho bà đứa con trai thứ hai để
bù cho người chồng đã mất. Chuyện nó là một thằng tù sống chui lủi và nửa điên
nửa dại với ảo tưởng vĩ đại về mình, bà chẳng quan tâm.
* * *
Gã
từ Chechnya đến.
Họ
xác định được chừng ấy vào buổi tối thứ ba khi Leyla làm cả hai sửng sốt bằng
cách uốn lưỡi nói mấy câu tiếng Chechnya,
việc mà trong đời Melik chưa bao giờ thấy bà làm. Khuôn mặt hốc hác của Issa
chợt sáng lên với nụ cười ngạc nhiên, nhưng cũng vụt tắt ngay, rồi sau đó gã
như bị cụt lưỡi. Thế nhưng giải thích của Leyla về kỹ năng ngôn ngữ của bà hóa
ra rất đơn giản. Khi còn là một bé gái ở Thổ Nhĩ Kỳ bà đã chơi với lũ trẻ con Chechnya trong làng và chắp nhặt ngôn ngữ của
chúng. Bà đã đoán Issa là người Chechnya từ lúc bà để mắt đến gã nhưng không
nói ra, vì đối với người Chechnya,
ai mà biết được.
Gã
từ Chechnya đến, và mẹ gã đã chết, và tất cả những
gì gã có để nhớ về bà là chiếc vòng tay có cuốn kinh Koran mà bà đã đeo vào cổ
tay gã trước khi chết. Nhưng bà chết khi nào và vì sao bà chết, và gã được mấy
tuổi khi được thừa kế chiếc vòng của bà là những vấn đề gã không hiểu và không
muốn hiểu.
“Ở
đâu người ta cũng ghét người Chechnya,”
Leyla giải thích cho Melik, trong khi Issa cứ cúi gằm và tiếp tục ăn. “Nhưng
chúng ta không thế. Con có nghe mẹ nói không, Melik?”
“Tất
nhiên là con nghe rồi, mẹ ạ.”
“Ai
cũng ngược đãi người Chechnya,
trừ chúng ta,” bà tiếp tục. “Ở khắp Nga và thế giới đó là chuyện bình thường.
Không chỉ người Chechnya mà những người Nga theo đạo Hồi ở bất
cứ đâu. Putin ngược đãi họ và Bush khuyến khích ông ta. Chừng nào mà Putin còn
gọi đó là cuộc chiến chống khủng bố thì ông ta còn làm với người Chechnya bất cứ chuyện gì ông ta muốn, và không
có ai ngăn ông ta lại. Phải thế không, Issa?”
Nhưng
phút vui vẻ ngắn ngủi của Issa đã qua lâu rồi. Bóng tối đã trở lại khuôn mặt
nhăn nhúm của gã, tia đau khổ lại ánh lên trong đôi mắt nai của gã, và bàn tay
gầy guộc nắm chặt lấy chiếc vòng như muốn che chở nó. Nói đi,
mẹ kiếp, Melik tức giận giục gã nhưng không nói to ra. Nếu có ai làm tao ngạc
nhiên khi nói tiếng Thổ với tao, tao sẽ dùng tiếng Thổ nói lại, đó là phép lịch
sự! Vậy tại sao mày không trả lời mẹ tao mấy lời sốt sắng bằng tiếng Chechnya,
hay mày còn bận nốc thức ăn không mất tiền mua của bà?
Anh
có những nỗi lo khác. Tiến hành kiểm tra an ninh tầng áp mái mà bây giờ Issa
coi như lãnh địa toàn quyền của gã - một cách lén lút, khi Issa đang ở trong
bếp nói chuyện với mẹ anh như thường lệ - anh đã khám phá ra nhiều điều: những
mẩu thức ăn dự trữ như thể Issa đang âm mưu chạy trốn; bức ảnh bán thân nhỏ
trong khung mạ vàng chụp người em gái đã hứa hôn của Melik ở tuổi mười tám,
trộm trong bộ sưu tập những bức ảnh gia đình quý báu của mẹ anh để trong phòng
khách; và chiếc kính lúp của cha anh nằm chặn ngang cuốn Những Trang Vàng
Hamburg, mở ra ở phần dành cho nhiều ngân hàng của thành phố.
“Thượng
đế đã ban cho em gái con một nụ cười dịu dàng,” Leyla tuyên bố một cách mãn
nguyện để trả lời khi Melik giận dữ phản đối rằng họ đang chứa chấp một kẻ lệch
lạc tình dục cũng như một kẻ ngoài vòng pháp luật. “Nụ cười của nó sẽ làm dịu
lòng Issa.”
* * *
Issa
từ Chechnya đến, vậy thì gã có nói tiếng Chechnya không? Cả cha lẫn mẹ của gã đều đã
chết, nhưng khi được hỏi về họ, gã cũng mù tịt như các vị chủ nhà của gã,
nhướng lông mày lên nhìn đăm đăm thật dễ thương vào góc phòng. Gã là một kẻ
không tổ quốc, không gia đình, một cựu tù nhân và sống bất hợp pháp, nhưng đấng
Allah sẽ cung cấp phương tiện cho gã để học y khoa khi gã không còn là ăn mày
nữa.
À,
bản thân Melik cũng đã có lúc mơ làm bác sĩ và thậm chí đã rút ra từ cha và chú
của anh một khoản vốn chung để đài thọ cho việc học, một việc có lẽ đòi hỏi sự
hy sinh thật sự của gia đình. Và nếu như anh thi tốt hơn một chút và có lẽ là
chơi thể thao ít đi thì hôm nay anh đã ở đó rồi: trường y, một sinh viên năm
thứ nhất tận tâm tận lực vì danh dự của gia đình. Do đó dễ hiểu vì sao cái giả
định hão huyền của Issa rằng Allah sẽ làm cách nào đó cho gã thành công trong
cái việc mà Melik đã thất bại một cách rõ ràng đã thúc đẩy anh bỏ qua một bên
những lời răn của Leyla, và trong chừng mực mà lòng quảng đại của anh cho phép,
lao vào một cuộc thẩm tra gã khách không mời mà đến.
Nhà
này là của anh. Leyla đã đi mua sắm và đến xế chiều mới về.
“Vậy
cậu đã từng học y rồi, đúng không?” anh gợi ý, ngồi xuống bên cạnh Issa để thêm
phần thân mật, và tưởng tượng mình là dự thẩm viên mưu mẹo nhất thế giới. “Thật
hay.”
“Tôi
đã ở nhiều bệnh viện, thưa ngài.”
“Với
tư cách sinh viên?”
“Tôi
bị ốm, thưa ngài.”
Sao
lại thưa ngài? Cung cách học ở
trong tù nữa chăng?
“Dù
sao, là bệnh nhân thì không giống như là bác sĩ, đúng không? Một bác sĩ phải
biết người ta bị bệnh gì. Một bệnh nhân thì ngồi đó chờ người ta chữa cho.”
Issa
nghiền ngẫm lời tuyên bố này một cách phức tạp như khi gã xem xét những tuyên
bố tầm cỡ nào khác, lúc thì mỉm cười vu vơ, khi thì đưa mấy ngón tay nguều
ngoào cào bộ râu, rồi cuối cùng mỉm cười rạng rỡ mà không trả lời.
“Cậu
bao nhiêu tuổi?” Melik hỏi, anh trở nên cục cằn hơn dự tính ban đầu. “Nếu cậu
không phiền về câu hỏi của tôi” - anh nói giọng châm biếm.
“Hai
mươi ba, thưa ngài.” Nhưng lại một lần nữa sau một hồi suy xét rất lung.
“Thế
thì quá già rồi, đúng không? Cho dù ngay ngày mai cậu có chỗ ở thì cậu cũng
không thành một bác sĩ giỏi được mà phải cho đến khi cậu ba mươi lăm, hay đại
loại thế. Cộng với việc học tiếng Đức nữa. Cậu cũng phải trả tiền cho việc đó.”
“Nếu
Thượng đế muốn tôi còn sẽ cưới một người vợ tốt và có nhiều con, hai trai, hai
gái.”
“Dù
sao cũng không phải là em gái tôi. Tôi e rằng tháng sau nó sẽ lấy chồng.”
“Nếu
Thượng đế muốn thì cô ấy sẽ có nhiều con, thưa ngài.”
Melik
cân nhắc đòn tấn công kế tiếp, và tung ra: “Đầu tiên cậu đến được Hamburg bằng cách nào?” anh hỏi.
“Chuyện
đó không quan trọng.”
Không
quan trọng? Nó lấy từ này đâu ra? Mà còn bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ?
“Cậu
không biết ở thành phố này người ta đối xử với những kẻ tị nạn tệ hơn bất kỳ
nơi nào khác trên đất Đức sao?”
“Hamburg sẽ là quê tôi, thưa ngài. Đó là nơi họ
đưa tôi đến. Đó là mệnh lệnh thiêng liêng của đấng Allah.”
“Ai đưa cậu đến? Họ là
ai?”
“Đó
là một sự kết hợp, thưa ngài.”
“Kết
hợp của cái gì?”
“Có
thể là dân Thổ Nhĩ Kỳ. Có thể là dân Chechnya.
Chúng tôi trả tiền cho họ. Họ đưa chúng tôi xuống thuyền. Cho chúng tôi vào
container. Trong container có ít không khí lắm”
Issa
bắt đầu toát mồ hôi, nhưng giờ Melik đã đi quá xa không quay lại được nữa.
“Chúng
tôi? Chúng tôi là ai?”
“Là
một nhóm, thưa ngài. Từ Istanbul. Bọn xấu. Những người xấu. Tôi không kính
trọng những người ấy.” Lại cái giọng cao ngạo, dù bằng thứ tiếng Thổ Nhĩ kỳ ấp
úng.
“Các
cậu có bao nhiêu người?”
“Có
lẽ hai mươi. Trong container lạnh lắm. Sau mấy giờ, rất lạnh. Con tàu ấy phải
đi Đan Mạch. Tôi may mắn.”
“Cậu
muốn nói Copenhagen phải không? Copenhagen ở Đan Mạch. Thủ đô.”
“Vâng”
- mắt sáng lên như thể Copenhagen là một ý tưởng hay - “đến Copenhagen. Ở Copenhagen,
tôi sẽ được bố trí. Tôi sẽ thoát khỏi bọn người xấu. Nhưng con tàu này không
đến thẳng Copenhagen.
Con tàu này phải đến Thụy Điển trước. Đến Gothenburg.
Đúng không?”
“Có
một cảng ở Thụy Điển tên là Gothenburg, tôi nghĩ thế,” Melik xác nhận.
“Ở
Gothenburg, tàu sẽ vào bến, tàu sẽ lấy hàng, rồi đi Copenhagen.
Khi tàu đến Gothenburg chúng tôi đã rất yếu, rất đói. Trên tàu họ dặn chúng
tôi: ‘Không được gây tiếng động. Tụi Thụy Điển ác lắm. Tụi Thụy Điển sẽ giết
các anh.’ Chúng tôi không gây tiếng động. Nhưng người Thụy Điển không thích
container chúng tôi. Người Thụy Điển có chó.” Gã nghĩ ngợi một lúc. “‘Tên anh
là gì?’” gã nhấn nhá, nhưng đủ lớn để khiến Melik ngồi bật dậy. “‘Cho xem giấy
tờ? Anh ở trong tù ra à? Tội gì? Anh trốn tù phải không? Như thế nào?’ Các bác
sĩ thật giỏi. Tôi khâm phục các bác sĩ này. Họ để chúng tôi ngủ. Tôi biết ơn
các bác sĩ này. Một ngày nào đó nhất định tôi cũng sẽ là bác sĩ. Nhưng Thượng
đế muốn tôi trốn. Trốn vào Thụy Điển thì không được. Có hàng rào NATO. Nhiều
lính gác. Nhưng có một nhà vệ sinh. Trong nhà vệ sinh có cửa sổ. Sau cửa sổ là
cổng ra cảng. Bạn tôi có thể mở cổng này. Bạn tôi từ tàu lên. Tôi trở lại tàu.
Tàu đưa chúng tôi đến Copenhagen.
Cũng đã tới được rồi, tôi nói. Ở Copenhagen có xe tải đi Hamburg.
Thưa ngài, tôi yêu Thượng đế. Nhưng phương Tây tôi cũng yêu. Ở phương Tây tôi
sẽ được tự do thờ Người.”
“Một
chiếc xe tải đã chở cậu đến Hamburg?”
“Được
bố trí.”
“Một
chiếc xe tải Chechnya à?”
“Đầu
tiên bạn tôi phải đưa tôi đến đường cái.”
“Bạn
cậu trong thủy thủ đoàn? Người bạn đó ấy à? Vẫn là anh ta à?”
“Không,
thưa ngài. Là một người bạn khác. Lên đến đường khó lắm. Trước khi lên xe tải,
chúng tôi phải ngủ một đêm ngoài đồng.” Gã nhìn lên, và một niềm vui trong trẻo
phút chốc lan tỏa nơi khuôn mặt hốc hác của gã. “Trời đầy sao. Thượng đế nhân
từ. Con ngợi ca Người.”
Đánh
vật với những điều khó tin trong câu chuyện này, thấy xấu hổ vì cái nhiệt tình
sôi nổi và tức điên lên vì những chỗ bỏ sót của nó cũng như việc anh không thể
vượt qua được chúng, Melik cảm thấy nỗi thất vọng của anh lan tỏa đến cánh tay,
nắm tay, và những dây thần kinh quyền Anh trong anh thắt lại nơi dạ dày.
“Nó
thả cậu xuống ở đâu, cái xe tải thần kỳ không biết từ đâu mà ra ấy? Nó thả cậu
xuống đâu?”
Nhưng
Issa đã không còn nghe nữa, nếu như từ nãy gã có nghe. Bỗng nhiên - hay là đột
ngột đối với đôi mắt thật thà nếu không muốn nói là kém hiểu biết của Melik -
tất cả những gì đã được tích lại trong người gã phun trào ra. Gã chuệch choạng
đứng dậy, và với một bàn tay khum bịt lên miệng, gã lom khom tập tễnh bước về
phía cửa, cố sức đẩy nó mở ra mặc dầu nó không khóa, lảo đảo đi ra hành lang
vào nhà tắm. Một lúc sau, căn nhà tràn ngập tiếng gào rú và nôn ọe, những âm
thanh Melik không được nghe từ ngày cha anh chết. Dần dần những tiếng ấy ngừng,
tiếp đó là tiếng nước chảy tràn, tiếng cửa nhà tắm mở ra và đóng vào, tiếng cót
két của những bậc thang lên tầng áp mái khi Issa trèo lên thang. Sau đó một sự
im lặng nặng nề và lo âu trùm xuống, cứ mười lăm phút lại bị phá vỡ bởi tiếng
chim líu lo từ chiếc đồng hồ điện tử của Leyla phát ra.
* * *
Lúc
bốn giờ chiều ngày hôm ấy, Leyla trở về tay xách nặng hàng mua được, và, qua
không khí hiểu ngay điều gì đã xảy ra, bà mắng Melik đã làm sai bổn phận chủ
nhà, làm ô danh cha anh. Cả bà cũng rút về phòng riêng, ở lì trong đó đến giờ
làm cơm bữa tối. Chẳng mấy chốc mùi thức ăn thơm nức cả căn nhà, nhưng Melik
vẫn nằm trong giường. Lúc tám rưỡi bà nện chiếc chuông đồng, một món quà cưới
quý giá mà Melik luôn luôn nghe như lời trách mắng. Biết rằng bà không cho phép
chậm trễ chút nào trong những lúc như thế này, anh len lén vào bếp, tránh nhìn
vào mắt bà.
“Issa,
con ơi, xuống đây con!” Leyla gọi to lên và, không nghe thấy tiếng trả lời, bà
nắm chiếc ba toong của ông chồng quá cố thọc lên trần bằng cái đầu sắt bọc cao
su, mắt bà gay gắt nhìn Melik, anh chàng, dưới cái nhìn lạnh băng của bà, đành
cắn răng trèo lên tầng áp mái.
Issa
mặc quần đùi đang nằm trên nệm, mình đẫm mồ hôi và còng queo nghiêng sang một
bên. Gã đã tháo chiếc vòng của mẹ gã ra khỏi cổ tay và nắm chặt nó trong bàn
tay đẫm mồ hôi. Quanh cổ gã đeo một chiếc ví da cáu ghét buộc bằng một sợi dây
da. Mắt gã mở to, nhưng hình như không thấy sự có mặt của Melik. Nhoài ra để
chạm tay vào vai gã, Melik hết hồn vội rụt lại. Phần thân trên của Issa là một
mảng những vệt thâm tím chồng chéo lên nhau. Một số vệt như vết roi, số khác
như đánh bằng dùi cui. Trên hai gót chân gã - cũng hai gót chân đã nện trên các
vỉa hè Hamburg - Melik thấy những lỗ đã mưng mủ to
bằng đầu điếu thuốc lá. Vòng tay qua thân người Issa và quấn một tấm chăn quanh
thắt lưng gã cho đúng đắn, Melik nhẹ nhàng nâng gã lên và hạ Issa bất động qua
cửa lật của gian gác mái vào cánh tay Leyla đang đợi sẵn.
“Đưa
hắn vào giường con,” Melik thì thào qua nước mắt. “Con sẽ ngủ dưới sàn. Không
sao đâu. Con thậm chí còn cho hắn đứa em gái con để mỉm cười với hắn,” anh nói
thêm khi nhớ đến những bức hình nhỏ lấy trộm trên tầng gác mái, và quay lên đó
để lấy xuống.
* * *
Tấm
thân bầm dập của Issa được bọc trong áo choàng tắm của Melik, hai cẳng chân
thâm tím của gã thò cả ra ngoài giường của Melik, sợi dây chuyền vàng vẫn còn
nắm chặt trong bàn tay gã, cái nhìn điềm nhiên của gã đăm đăm trên bức tường
danh dự của Melik: những bức ảnh trên báo của người đoạt giải vô địch, những
đai quyền Anh và những đôi găng chiến thắng. Trên sàn nhà, bên cạnh gã, Melik
ngồi chồm hỗm. Anh những muốn gọi bác sĩ do anh trả tiền, nhưng Leyla đã cấm
anh không được gọi bất cứ ai. Quá nguy hiểm. Cho Issa. Nhưng cho cả ta nữa. Còn
đơn xin nhập quốc tịch thì sao? Đợi đến sáng, nó sẽ bớt sốt và sẽ bắt đầu bình
phục.
Nhưng
gã trai không hạ sốt.
Quấn
kín mặt trong chiếc khăn quàng và đi nửa đường bằng taxi để làm nản lòng những
kẻ đuổi theo mà bà tưởng tượng ra, Leyla làm một cuộc thăm viếng không báo
trước đến một nhà thờ Thổ Nhĩ Kỳ ở bên kia thành phố, nơi nghe nói có một bác
sĩ Thổ Nhĩ Kỳ mới đến lễ. Ba tiếng đồng hồ sau bà về nhà trong giận dữ. Bác sĩ
trẻ là một thằng ngu và một tên lừa bịp. Hắn không biết gì cả. Hắn thiếu đến cả
những ngón nghề sơ đẳng. Hắn không có ý thức gì về các trách nhiệm tôn giáo của
hắn. Rất có thể hắn chẳng phải là bác sĩ gì sất.
Trong
khi đó, lúc vắng mặt bà, cơn sốt của Issa cuối cùng cũng có hạ chút ít, và bà đã
có thể nhờ đến tay nghề y tá sơ đẳng mà bà học được trước khi gia đình có đủ
khả năng để mời một ông bác sĩ hay dám đến bác sĩ khám bệnh. Bà tuyên bố, nếu
Issa bị nội thương thì chắc gã đã không thể nào nuốt nổi bằng ấy thức ăn, vì
vậy bà không sợ cho gã aspirin để hạ sốt, hay cho uống hết một liều thuốc nước
bà làm bằng nước gạo pha với thảo dược Thổ Nhĩ Kỳ.
Biết
rằng dù Issa khỏe hay chết cũng không để cho bà chạm đến tấm thân trần của gã,
bà đưa cho Melik mấy chiếc khăn mặt, một ít thuốc đắp lên trán và một bát nước
lạnh để lau cho gã mỗi giờ. Để làm được điều đó, anh chàng Melik đang bị nỗi ăn
năn giày vò cảm thấy buộc phải tháo chiếc ví da trên cổ Issa xuống.
Chỉ
sau một hồi lưỡng lự, và hoàn toàn vì quyền lợi của ông khách ốm đau - hay anh
tự cam đoan với mình như thế - và chỉ đến khi Issa đã quay mặt qua bức tường
kia và rơi vào giấc ngủ chập chờn ngắt quãng bằng những tiếng thều thào bằng
tiếng Nga, anh mới dám tháo sợi dây đeo bằng da và nới lỏng miệng ví.
Cái
đầu tiên anh nhìn thấy là một mớ những bài báo Nga cũ cắt ra đã mờ cả chữ, được
cuộn lại và buộc với nhau bằng dây cao su. Tháo dải dây ra, anh trải chúng ra
sàn. Tất cả những mẩu báo đều có bức ảnh một sĩ quan Hồng quân mặc quân phục.
Trông ông ta hung ác, trán rộng, quai hàm thô và ở độ sáu tư sáu lăm. Hai mảnh
báo là những mẩu cáo phó, với hình thập ác Chính giáo và phù hiệu của trung
đoàn.
Cái
thứ hai anh nhìn thấy là một xấp giấy bạc năm mươi đô la Mỹ, mới cứng, mười tờ
tất cả, kẹp lại với nhau bằng cái kẹp tiền giấy. Nhìn thấy những thứ này, tất
cả những nghi ngờ cũ của anh lại tràn về. Một kẻ chạy trốn, bị đánh bầm dập,
không xu dính túi, không nhà, sắp chết đói có năm
trăm đô la chưa động đến trong
ví. Có phải gã đã ăn trộm chúng? Làm giả? Có phải đây là lý do đã đưa gã vào
tù? Có phải đây là số tiền còn lại sau khi đã trả cho những kẻ đưa lậu người
qua biên giới ở Istanbul, người thủy thủ hay giúp người đã che giấu gã, và tài
xế xe tải đã đưa gã biến từ Copenhagen đến Hamburg? Nếu bây giờ gã còn lại năm
trăm đô thì lúc ra đi gã có bao nhiêu? Biết đâu cái ảo tưởng đi học y của gã
rốt cuộc lại chẳng sai chỗ chút nào?
Cái
thứ ba anh tìm thấy là một phong bì trắng cáu bẩn vo tròn như thể ai đó có ý
định ném nó đi, sau rồi lại đổi ý: không tem, không địa chỉ và nắp đã xé ra.
Vuốt cho phẳng chiếc phong bì, anh moi ra bức thư một trang đánh máy nhàu nát
bằng thứ chữ Cyrill. Nó có một địa chỉ, ngày tháng và tên người gửi - hay anh
giả định thế - bằng chữ in đen lớn chạy trên đầu trang. Bên dưới nội dung không
đọc được là một chữ ký không nhìn ra bằng mực xanh, tiếp theo là sáu chữ số
viết tay, nhưng được viết rất cẩn thận, mỗi chữ số được tô đậm nhiều lần, như
muốn nói: hãy nhớ cái này.
Cuối
cùng anh tìm thấy một chiếc chìa khóa, dạng ống nhỏ, không lớn hơn một khớp đốt
ngón tay nơi bàn tay võ sĩ của anh. Nó được tiện bằng máy và có răng phức tạp ở
ba cạnh: quá nhỏ đối với cửa nhà tù, quá nhỏ đối với cổng ở Gothenburg dẫn ra
tàu. Nhưng vừa đúng cho những còng tay.
Để
các đồ vật của Issa vào ví như cũ, Melik chuồi nó xuống dưới chiếc gối đẫm mồ
hôi để gã thấy khi tỉnh lại. Nhưng sáng hôm sau, cái cảm giác tội lỗi đè nặng
lên anh không để cho anh yên. Mặc dầu cả đêm thức trắng, nằm dài dưới sàn nhà
còn Issa cách anh một bước trên giường, anh bị giày vò bởi hình ảnh tay chân bị
hành hạ của người khách, và bởi nhận rõ sự bất xứng của mình.
Là
một võ sĩ anh đã biết thế nào là đau, hay tưởng là mình biết. Là một đứa trẻ
đường phố Thổ Nhĩ Kỳ, anh cũng từng bị đánh cũng như đánh lại. Trong một trận
tranh giải vô địch gần đây, một trận mưa quả đấm đã làm anh choáng váng thấy
bức màn đỏ, từ nơi đó các võ sĩ sợ không quay lại được. Bơi tranh giải với các
tay bơi người Đức anh đã thử các giới hạn tận cùng sức chịu đựng của anh, hay
anh nghĩ là anh đã thử.
Thế
mà so với Issa anh là người chưa được thử thách.
Issa
là một người đàn ông còn mình chỉ là một cậu bé. Mình luôn mong có một người em
trai thì giờ đây nó đã được đưa đến ngay trước bậc cửa nhà mình, và mình đã xua
đuổi nó. Nó đã chịu đựng đau khổ như một người bảo vệ chân chính những niềm tin
của mình, trong khi mình thì tìm cách giành những vinh quang rẻ tiền trên võ
đài quyền Anh.
* * *
Vào
khoảng sớm tinh mơ trước rạng đông, những tiếng thở không đều khiến Melik lo
sốt vó suốt đêm đã lắng xuống thành tiếng khò khè đều đều. Thay thuốc đắp, anh
thở phào nhẹ nhõm thấy cơn sốt của Issa đã giảm. Vào giữa buổi sáng, gã được đỡ
ngồi lên ngả người giống như một viên tổng trấn giữa đống đệm nhung vàng có tua
của Leyla mang từ phòng khách vào, và bà đang bón cho gã khoai tây nghiền để
hồi sức, do bà tự pha chế, và chiếc dây chuyền vàng đã trở lại cổ tay gã.
Hổ
thẹn muốn chết, Melik đợi cho mẹ anh đóng cửa lại sau lưng bà. Quỳ xuống bên
Issa, anh gục đầu xuống.
“Tôi
đã lục chiếc ví của anh,” anh nói. “Tôi thật xấu hổ vô cùng về việc tôi đã làm.
Cầu đấng Allah nhân từ tha tội cho tôi.”
Issa
rơi vào một trong những cơn im lặng triền miên của gã, sau đó đặt một bàn tay
khẳng khiu lên vai Melik.
“Đừng
bao giờ thú tội, bạn tôi ạ,” gã thẫn thờ buông lời khuyên, siết chặt tay Melik.
“Nếu anh thú tội, họ sẽ giữ anh ở đó mãi mãi.”
[...]